Lời dẫn của My blog: Sự kiện Liên Xô, quốc gia xã hội chủ nghĩa tiêu biểu nhất trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ chiến tranh lạnh sụp đổ vào năm 1991 đã gây ra một cú sốc lớn cho lịch sử đương đại. Nhiều nhà nghiên cứu chính trị, lịch sử trên thế giới cho đến hiện nay vẫn chưa đánh giá hết được vai trò vị trí của Liên Xô khi còn tồn tại đối với nền chính trị và lịch sử thế giới, cũng như những ảnh hướng có tính "địa chấn" của "hiện tương Liên Xô" sụp đổ đối với các chế độ chính trị khác nhau trên thế giới. Những chắc chắn có một điều mà Hêghen, nhà triết học Đức nổi tiếng thế kỷ 18 đã từng khẳng định: "mọi sự tồn tại đều hợp lý cũng như mọi cái hợp lý đều tồn tại" khi vận dụng vào trường hợp của Liên Xô cũng không ngoại lệ. Người ta nói, sự sup đổ của Liên Xô chắc chắn có nguyên nhân của nó. Những người Cộng sản thì nói: sự sụp đổ của Liên Xô là do sự xa rời quần chúng của Đảng Cộng sản Liên Xô cùng với sự phản bội của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Goocbachop và tất nhiên cũng còn do nguyên nhân là sự chống phá của "các thế lực thù địch" (Mỹ và các quốc gia tư sản Phương Tây); Còn các nhà nghiên cứu chính trị Phương Tây lại nói: việc Liên Xô sụp đổ là tất yếu, bởi nó là một chế độ chính trị không hợp lý, sinh ra từ kết quả nhào nặn của những ý tưởng hoang tưởng của những triết gia hoang tưởng, là kết quả của việc giai cấp lao động khi lên nắm quyền đã tự thoái hóa (tha hóa) biến mình thành giai cấp đối lập với giai cấp mà họ xuất thân, v.v... Tác giả Anatoly Tille, một nhà nghiên cứu vốn xuất thân là một công dân của chế độ chính trị vừa mới sụp đổ đó đã có một công trình nghiên cứu công phu về hiện tượng Liên Xô, những nguyên nhân dẫn đến ra đời và sụp đổ, trong đó tác giả nhấn mạnh: Nhà nước Liên Xô ra đời và hoạt động trên danh nghĩa đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân nhưng thực chất là nhà nước phong kiến trá hình cả về lý luận và thực tiễn. Thiết nghĩ đây là một tư liệu quý về mặt khoa học, dù rằng chưa thể đánh giá nó đúng, sai nhưng nghiên cứu một thể chế đã qua chỉ ra các luận cứ khoa học là điều đáng làm, đáng trân trọng. Hy vọng My blog giới thiệu cuốn sách chia làm nhiều kỳ như một tư liệu quý cho bạn đọc tham khảo để tự mình có cách đánh giá hiện tượng "Nhà nước Liên Xô" trong lịch sử một cách khách quan, khoa học chứ không có ý định "làm ra, tàng trữ" tài liệu tuyên truyền chống nhà nước thì oan cho My blog này lắm. Xin trân trọng giới thiệu từng phần cuốn sách này.
Bản dịch được thực hiện nhân kỉ niệm 20 năm tan rã Liên Xô
Lời nói đầu cho lần xuất bản thứ hai
Phủ nhận những sự kiện “HIỂN NHIÊN” là một việc cực kì khó. Càng khó phủ nhận các “HỌC GIẢ CÓ UY TÍN”. Đã hàng ngàn năm, có hàng triệu người nhìn thấy mặt trời mọc và lặn, nghĩa là quay xung quanh trái đất. Hệ địa tâm của Ptolemy-Aristotle là hiển nhiên và vì vậy mà trở thành bất di bất dịch. Kopernik, nhà bác học thiên tài, phủ nhận hệ thống đó nhưng sinh thời đã không cho công bố phát minh của mình. Tác phẩm của ông bị nguyền rủa. Năm mươi năm sau ngày ông mất, Giordano Bruno phải chết trên dàn hoả thiêu. Năm mươi năm sau nữa, Galilei phải sám hối vì “sai lầm” trước toà án giáo hội. Hàng nghìn nhà bác học, kể cả các nhà thiên văn học, đã phủ nhận sự kiện trái đất quay quanh mặt trời.
Toàn thế giới, hàng triệu người đã nhìn thấy người ta “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô”. Ngay cả những kẻ thù không đội trời chung với Liên Xô cũng đã từng chiến đấu cho chủ nghĩa xã hội. Còn một số người, thí dụ G. Orwell, nhìn thấy những khía cạnh ghê tởm của chế độ đó thì lại cho rằng chủ nghĩa xã hội là một xã hội ghê tởm. Chủ nghĩa xã hội hiện diện trên các băng rôn, biểu ngữ, trong các nghị quyết đại hội Đảng [1] , trong các kế hoạch và trong lòng nhiệt tình của quần chúng trên các công trường xây dựng vĩ đại, trong các trước tác của các học giả, các nhà văn, các thước phim vân vân và vân vân. Chưa nói đến các chuyên gia phương Tây.
Nhưng tại sao Liên Xô, dù đã có những hi sinh vô bờ bến, vẫn không những không vượt được, mà đơn giản là còn không đuổi kịp được các nước tư bản về năng suất lao động, mặc dù theo Marx thì chủ nghĩa xã hội là hình thái xã hội cao hơn? Câu trả lời có thể tìm được, vấn đề là không ai hỏi cả! Mà câu trả lời chỉ đơn giản là: tại nước Nga đã có một chế độ xã hội chủ nghĩa về hình thức, phong kiến về nội dung. Đấy chính là nội dung của cuốn sách này.
Hoá ra cuốn sách này bao quát toàn bộ lịch sử của nước Nga Xô viết, nghĩa là từ năm 1917 cho đến khi nó cáo chung, dù khi chắp bút tôi không nghĩ như thế (tôi không thế nào tưởng tượng nổi sự tan rã của Liên Xô). Chưa hề có một cuốn sách nào tương tự như thế về lịch sử nhà nước Xô viết và hệ thống luật pháp của nó và tôi nghĩ còn lâu mới có một cuốn như thế. Đã mười hai năm trôi qua kể từ lần xuất bản đầu tiên cuốn sách của tôi nhưng vẫn chưa thấy có vẻ gì là người ta có ý định thảo luận vấn đề cả. Đơn giản là không ai.
Đúng hơn là tôi không viết cuốn sách mà là nghiên cứu chế độ của nước Nga, như người ta nói lúc đó, một cách bí mật, ngay cả với vợ mình (không phải là tôi không tin mà không muốn làm vợ con lo lắng), dù không có một chút hi vọng nào về việc xuất bản. Vì vậy mà tôi không lo kiểm duyệt, kể cả sự tự kiểm duyệt nữa. Liệu tôi có thoả mãn được trí tò mò của mình khi cố gắng tìm hiểu cái chế độ điên rồ, trong đó mọi sự đều được đặt lộn ngược từ chân lên đầu, cái chế độ mà phi lí là đặc điểm chủ yếu?
Tất nhiên là sẽ có người viết những cuốn sách như thế, nhưng đấy là những cuốn sách post factum, nghĩa là nhìn từ tương lai về quá khứ. Còn tôi viết trong hiện tại, về cái hiện tồn. Tôi viết trong vòng mấy năm, ngày nào tôi cũng thu thập tài liệu, thu thập các văn bản pháp qui, các hoạt động lập pháp và quan sát cách người ta áp dụng luật pháp trong đời sống. Sau này làm sẽ khó hơn nhiều. Vì vậy cuốn sách này vẫn là độc nhất vô nhị. Có thể nói một cách chắc chắn rằng đây là cuốn tư liệu về thời đại. Vì vậy tôi không sửa chữa, cũng không viết thêm, cũng không bình luận về những sự thay đổi về sau. Cuốn sách này là tấm bia tưởng niệm về lịch sử nước Nga. “Cải tổ” và “công khai” đã tạo điều kiện cho việc xuất bản cuốn sách vào năm 1992, dưới cái tên: “LUẬT PHÁP CỦA SỰ PHI LÍ. Luật pháp phong kiến-xã hội chủ nghĩa” với số lượng in rất ít, hiện nay không thể nào tìm được nữa (trong thư viện mang tên Lenin và thư viện lịch sử thì có).
Các sự kiện về sau được trình bày trong cuốn sách của tôi: Cuộc cách mạng tội ác vĩ đại ở nước Nga. Mafia nắm quyền được xuất bản ở Mĩ năm 2003. Các nhà xuất bản ở Nga “thời công khai hoá” không chịu in tác phẩm này.
Trong lần xuất bản thứ nhất tôi đã mắc sai lầm mà đa số người đã từng mắc phải, đấy là đánh đồng tư tưởng cộng sản với cái chế độ ăn thịt người tự gọi mình là chế độ cộng sản. Nếu tất cả các tôn giáo đều hứa hẹn thiên đường sau khi chết để đền bù cho những khổ đau trên mặt đất thì tư tưởng cộng sản, một tư tưởng có trước cả Thiên chúa giáo, chính là ước mơ xây dựng một xã hội công bằng ngay trên thế gian này. Vì vậy tư tưởng cộng sản là bất diệt, giống như tất cả các tôn giáo khác, ít nhất nó cũng đáng được tôn trọng. Vì vậy lần xuất bản này tôi đã loại bỏ chương viết về chủ nghĩa Marx. Tôi cũng cắt giảm một ít và thay đổi bố cục so với lần xuất bản thứ nhất. Điều chủ yếu là việc phân tích chế độ của nhà nước Liên Xô và lịch sử từ năm 1917 đến năm 1990 là không thay đổi.
Tôi đã nghiên cứu và mô tả cái chế độ đương thời với mình. Nhưng về mặt nào đó cuốn sách đã trở thành tài liệu về quá khứ. Tôi nói “mặt nào đó” như một lời cảnh báo cho tương lai.
Phần I. Lời nói đầu
Chương 1. Nói về cuốn sách
“… Nhận thức một cách khoa học về hệ thống của chúng ta là bất khả. Mọi việc đều bị che dấu, bị xoá nhoà. Và lạ lùng nhất là không ai cần hiểu cả. Nó đặc biệt không cần thiết đối với giới phê bình của xã hội chúng ta.”
Zinoviev
Đây không phải là cuốn chính luận (như kiểu Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô của Khrushchev [2] ) mà là một tài liệu nghiên cứu khoa học, tuy nhiên tôi muốn rằng nó phải dễ hiểu và hấp dẫn không chỉ đối với các nhà Luật học-Xô viết học mà còn hấp dẫn đối với tất cả những ai quan tâm đến các vấn đề của xã hội đương đại và các xu hướng phát triển của nó.
Nhưng nếu tôi công nhận phát biểu của Zinoviev thì liệu tôi có thể coi tác phẩm của mình là có tính khoa học được không? Xin được giải thích: khoa học nghiên cứu các sự kiện, nhưng trong hệ thống của chúng ta, tất cả các dữ kiện liên quan đến đời sống xã hội đều hoặc là các tài liệu mật hoặc là đã bị xuyên tạc đến mức khó mà rút ra từ đó được các kết luận khả dĩ. Lấy thí dụ lĩnh vực kinh tế: các số liệu do Tổng cục Thống kê công bố nói chung đều là giả. Sau khi Stalin chết, người ta thông báo cho chúng ta biết rằng tất cả các số liệu về thành tích trong nông nghiệp đều là giả, sản lượng nông nghiệp chưa bao giờ đạt được mức năm 1914. Như thế có nghĩa là các số liệu được công bố sau này là đúng ư? Có mấy năm các số liệu về nông nghiệp hoàn toàn không được công bố. Nhưng nếu ta tìm được các số liệu đó thì sao? Vô ích, vì báo cáo láo diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi cấp, từ nông trang đến huyện rồi lên tỉnh. Lên nước cộng hoà và Tổng cục thống kê [3] . Nhưng nếu giả sử ta có thể biết được số lượng giao nộp của từng nông trang thì sao? Cũng vô ích: hàng chục năm liền báo chí đã từng đăng việc các nông trang, thí dụ, để hoàn thành sản lượng giao nộp, họ đã đi mua bơ của các cửa hàng rồi sau đó giao lại cho nhà nước. Như vậy là một sản phẩm đã được nộp và thống kê đến mấy lần [4] . Có một thời (chính xác là dưới thời Khrushchev) Larionov, bí thư tỉnh ủy Riazan, nơi chuyện giao nộp vượt quá “ngưỡng chấp nhận được”, đã phải tự sát. Không loại trừ khả năng là ông ta đã được “giúp đỡ” cả trong việc này nữa.
Trong lĩnh vực công nghiệp cũng xảy ra những chuyện tương tự, ở đây, bên cạnh báo cáo láo còn có cả việc “cấp hàng khống”: giám đốc xí nghiệp không thực hiện được kế hoạch được giao thoả thuận với giám đốc một xí nghiệp khác để vị này công nhận rằng ông ta đã cung cấp hàng cho xí nghiệp. Cũng có đủ hồ sơ cần thiết, người ta thực hiện cả việc thanh toán theo đường ngân hàng ..v.v.. và thế là cái sản phẩm không hề tồn tại này được đưa vào số liệu của Tổng cục thống kê. Việc “cấp hàng khống” thịnh hành đến mức chính phủ phải ra nghị định (Nghị định của Hội đồng bộ trưởng Liên Xô ngày 22 tháng 8 năm 1973) về việc phạt 7% giá trị “hàng hoá”, nếu bị phát hiện [5] .
Xin hãy thử nghiên cứu nền kinh tế Liên Xô trên cơ sở các dữ liệu như thế! Thế mà một số nhà kinh tế học phương Tây vẫn tìm cách nghiên cứu được và một số người (dĩ nhiên là không phải tất cả) đã đưa ra được những đánh giá nói chung khá chính xác.
Chẳng nên nói một cách nghiêm túc về khoa học pháp lí của Liên Xô vì nó hoàn toàn phụ thuộc vào các quan điểm được áp đặt từ trên xuống và thay đổi một cách thường xuyên của Đảng và chẳng ăn nhập gì với cuộc sống hay có thể nói chỉ phản ánh được một phần rất nhỏ của đời sống.
Thí dụ, tất cả các luật gia đều biết (đơn giản là biết) rằng tỉ lệ tội phạm ở nước ta ngày một gia tăng [6] . Nhưng điều này mâu thuẫn với luận điểm của chủ nghĩa Marx, luận điểm này khẳng định rằng tội phạm được sinh ra bởi các điều kiện xã hội của chế độ người bóc lột người. Trong chủ nghĩa xã hội các điều kiện xã hội của tội phạm không còn, vậy thì tội phạm phải giảm dần. Nếu nó phải giảm dần thì nhất định nó sẽ giảm dần, không thể nào khác được! Số liệu về tội phạm là tài liệu mật, mặc dù đáng ra nó phải là số liệu rất đáng thuyết phục về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Các luật gia Xô viết chứng minh tỉ lệ tội phạm mỗi ngày một giảm như thế nào? Không có cách nào hoặc đưa ra định lí mà không cần chứng minh hoặc: “Tỉ lệ tội phạm và diễn biến của nó trong giai đoạn hiện nay (giai đoạn xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa cộng sản - tác giả) nói chung là giảm nhưng không đồng đều. Tỉ lệ tội phạm trong 20 năm qua đã giảm một phần ba so với giai đoạn trước chiến tranh. Cụ thể số người bị kết án trong 100 ngàn dân đã giảm 2 lần so với năm 1940, nếu so với năm 1928 thì giảm 3,8 lần. Số vụ án trong những năm 1963-1965 là thấp nhất trong 20 năm qua [7] ”. Và tác giả đưa ra kết luận về “thắng lợi vô cùng to lớn của nhà nước và xã hội Liên Xô trong việc khống chế tội phạm”!. Tác giả của những câu chuyện như thế đã được phong tiến sĩ luật học và năm 1985 được nhận huân chương quốc gia đấy!
Trong quá trình nghiên cứu của mình tôi sẽ dựa trên những sự kiện mình biết. Nhưng cần bao nhiêu sự kiện cho mỗi luận điểm? Một trăm? Một ngàn? Đó là điều bất khả nếu ta muốn có một cuốn sách với số trang in có thể chấp nhận được. Nhưng dù có dẫn ra cả ngàn sự kiện thì cũng không thuyết phục được một người “xã hội chủ nghĩa” phương Tây, nếu anh ta không muốn nhìn thẳng vào sự thật và không tha cho tôi tội “vu khống nhà nước Xô viết”.
Mấy triệu người đã chết vì đói trong những năm 1930-1933 do chính quyền cố tình tạo ra ở Ukraine? Xin hãy suy nghĩ những từ này: “nạn đói ở Ukraine” – “vựa lúa của nước Nga”!. Một số nạn nhân của thảm hoạ vẫn còn sống, thế mà năm 1988 khi những người Canada gốc Ukraine đưa ra vấn đề này thì viên đại sứ Liên Xô đã nói một cách hằn học rằng đấy là những lời dối trá, kèm theo một tuyên bố có tính nhục mạ người Canada nữa. Còn chính phủ Canada thì nhẫn nhục chịu đựng. Chả lẽ cả dân tộc Ukraine phải chết đi để bây giờ người ta buộc phải nghiến răng công nhận rằng đấy là do “điều kiện thời tiết [8] ”.
Trong giai đoạn “bán công khai” của Gorbachev, trên báo chí bắt đầu xuất hiện một vài chứng cứ về nạn đói ở Ukraine. Hồi kí của bà vợ goá của N. Bukharin nói rằng ông này có mặt ở Ukraine lúc đó và đã đưa “tất cả số tiền ông ta có” cho đám trẻ đói khát. Đấy là hiện tượng đặc thù của chế độ Xô viết: đầu tiên là tạo ra nạn đói rồi sau đó tổ chức “cứu trợ”, phát chẩn. Khi về Moskva, Bukharin đã kể lại chuyện này cho ông nhạc nghe và “gục xuống đi văng nức nở khóc” (Ngọn lửa nhỏ 1987, số 48). Xin nói thêm rằng N. Bukharin, người chiến sĩ đấu tranh cho sự nghiệp của giai cấp công nhân, lúc đó là ủy viên Bộ chính trị nghĩa là một nhà lãnh đạo cao cấp, một nhà báo nối tiếng, nhưng sau đó ông này đã không hề nói một lời nào về nạn đói ở Ukraine cả.
Trên báo chí người ra đã viết về cuộc bạo loạn ở Novotrerkassk, tuy rằng cách đây chưa lâu nói chuyện đó có thể bị đi tù như chơi. Nhưng tôi chưa được đọc những câu chuyện về các cuộc bạo loạn ở Temir-Tau, Trerkasư và nhiều địa phương khác.
Ở phương Tây đã có những tác phẩm chứng tỏ sự am tường của tác giả về hệ thống pháp luật Liên Xô. Dĩ nhiên là tầm bao quát của chúng rất rộng: từ ca ngợi cho đến thù địch. Nghiên cứu các kiến giải từ bên ngoài, từ những nhận thức pháp lí khác là rất hữu ích; các tác phẩm này giúp tôi nhìn rõ những điều mà trước đây tôi không nhận thấy trong hệ thống pháp lí “của mình”. Song những kiến giải “từ bên trong” vẫn chính xác hơn. Nhưng không có những tác phẩm như thế. Đa số các tác phẩm thuộc lĩnh vực luật pháp Liên Xô chỉ đơn giản là những lời biện hộ dối trá mà thôi. Chỉ viết về những vấn đề chuyên sâu mới có thể tránh được chuyện đó, nếu không thì tác phẩm khó lòng mà được xuất bản. Những tác phẩm của phương Tây viết về pháp luật của Liên Xô mà tôi biết thì hoặc là mô tả một cách tổng thể, nghĩa là đưa ra các nguyên lí và nguồn gốc hoặc là dẫn ra các định chế một cách giáo điều và tĩnh (cái mà trong luật học so sánh người ta gọi là “luật pháp sách vở”). Thực tiễn được trình bày trong sách vở Liên Xô chỉ là những tiêu bản và chẳng ăn nhập gì với thực tiễn cả. Mặc dù gần đây các luật sư phương Tây đã chú ý đến vấn đề xã hội học và các điều kiện vật chất của xã hội, nhưng tính cách giáo điều và sự bám víu vào lời văn vẫn còn “nằm trong máu” của họ.
Còn tôi lại muốn giới thiệu với độc giả một nền “pháp luật sống động giữa đời thường”, và trong điều kiện cho phép, với lịch sử, với sự vận động và phát triển của nó. Vì vậy bức tranh về pháp luật Liên Xô sẽ hoàn bị hơn nếu ta mô tả nó từ quan điểm duy vật mác-xít. Sự tương phản giữa lí thuyết và thực tiễn của “chủ nghĩa cộng sản khoa học” sẽ càng rõ ràng hơn.
Cuối cùng, bất cứ luật sư phương Tây nào, do cách tư duy và giáo dục, không phụ thuộc vào quan điểm chính trị và thái độ đối với chủ nghĩa xã hội và Liên Xô, đều coi pháp luật Liên Xô là một hệ thống, dù tốt dù xấu, nhưng là một hệ thống. Nhưng điều chính yếu, điều quyết định trong pháp luật Liên Xô lại là sự PHI LÍ, cái phi lí này, nói chung và trong từng tiểu tiết, lại bắt nguồn từ sự phi lí của toàn bộ hệ thống kinh tế-xã hội của đất nước.
Óc tưởng tượng của Swift, của Gogol, của Orwell sẽ chẳng là gì trước những chuyện tưởng như hoang đường diễn ra trong đời sống của xã hội Liên Xô. Tất cả đều được đặt lộn ngược, tất cả đều thành “trồng cây chuối” hết. Không hiểu ý nghĩa của sự phi lí của hiện thực Liên Xô thì không nhận thấy chuyện lộn ngược đó: người có tư duy bình thường không thể lĩnh hội được. Khi tiếp xúc với sự phi lí, con người ta thường nghĩ rằng mình không hiểu một cái gì đó và đơn giản là anh ta sẽ cho qua.
Tất nhiên là sự phi lí tồn tại khắp nơi: chả lẽ việc suốt bốn mươi năm qua nước Mĩ dùng tiền của những người đóng thuế để nuôi các gián điệp Liên Xô không phải là chuyện phi lí ư? Chỉ mới gần đây người ta mới nhận thức được chuyện đó và đã có những cố gắng, tuy còn rụt rè và chưa đi đến đâu, nhằm thoát khỏi gánh nặng đó. Chả lẽ việc phương Tây tốn hàng núi tiền cho việc trang bị vũ khí nhằm chống lại kẻ thù tiềm tàng là các “nước xã hội chủ nghĩa” nhưng lại lao đến giúp đỡ khi các nước này rơi vào tình trạng tuyệt vọng (Etiopia, Ba Lan, Liên Xô) lại không phải là phi lí ư? Hay như trong những năm 1917-1922, khi phương Tây chi tiền để cứu những kẻ bắn giết và cướp bóc nhân dân và những kẻ nêu ra nhiệm vụ tiến hành cách mạng thế giới và tiêu diệt hết “bọn tư sản” lại không phải là phi lí ư?
Nhưng chỗ nào cũng thấy phi lí thì lại là một sự kiện đặc biệt, thế mà ở nước ta toàn bộ hệ thống là một sự phi lí và vì vậy được coi là bình thường.
Vì vậy đối với độc giả Liên Xô, tư tưởng chủ đạo của tác phẩm hoá ra lại là mới; sống trong sự phi lí, anh ta trở thành quen với nó, thí dụ anh ta đã quen với chế độ hộ khẩu, đã quen với việc hàng tháng, thậm chí hàng năm không được trả lương cho nên anh ta coi đấy là một sự bình thường.
Mặc dù tình trạng đó có mặt khắp nơi, vẫn cần phải đưa ra ở đây một vài thí dụ ngõ hầu giúp độc giả làm quen với đời sống ở Liên Xô.
Trong giai đoạn, khi công cuộc “cải tổ” của Gorbachev đang diễn ra một cách quyết liệt nhất thì tại một nông trang ở tỉnh Iaroslav, giữa đêm hôm khuya khoắt, giám đốc nông trang dựng tất cả dậy để họp, ông ta chửi bới họ vì không biết làm việc, rồi xua ra khỏi văn phòng và nhảy lên bàn vừa múa vừa hát: “Ta là giám đốc! Ta là trời con!” Và chỉ đến khi ông ta giết chết hai nữ nông trang viên mọi người mới té ngửa ra là ông ta đã bị điên (Nước Nga Xô viết, ngày 16 tháng 7 năm 1989). Không chỉ tất cả các nông trang viên dưới quyền mà ban lãnh đạo huyện, thông qua các chỉ điểm của mình, trước đó cũng đã biết rõ tư cách của viên giám đốc này rồi. Vấn đề là tất cả, từ lãnh đạo đến tổ chức Đảng, chưa nói các nông trang viên lại coi đấy là điều bình thường!
Sự kiện một kẻ độc đoán đứng đầu quốc gia lấy giầy đập lên giảng đàn của Liên Hiệp Quốc, làm vỡ cả kính trên chiếc bàn viết (chuyện này sau đó đã trở thành mốt của các cán bộ đủ mọi cấp) nói lên điều gì? Còn khi ông ta ra lệnh trồng ngô ở các tỉnh Arkhagensk và Vologod, hàng triệu người biết rõ rằng ngô không sống được ở đấy, rằng đấy là vứt tiền qua cửa sổ, là phí công toi, nhưng vẫn nhiệt tình, với cờ quạt, biểu ngữ trong tay và bài hát trên môi, lao vào thực hiện kế hoạch. Trong một đất nước bình thường chuyện đó có thể xảy ra được không?
Một người bình thường sẽ hiểu việc “thi đua xã hội chủ nghĩa nhằm hoàn thành vượt mức kế hoạch” giữa các nghĩa trang và các lò thiêu người như thế nào? Trong khi đó thỉnh thoảng người ta lại đưa tro của người quá cố cho thân nhân của họ trong những chiếc hộp giấy vì thiếu bình đựng di cốt! Còn may là không bị gói bằng báo Sự thật đấy! Trong nhà hộ sinh số 10 ở Moskva, xác trẻ sơ sinh có lúc còn bị xếp trong... toilet dành cho phụ sản nữa kia! (TV Moskva, tháng 11 năm 1989).
Nhưng đây, như người ta thường nói, chỉ là “chuyện vặt”. Ta hãy xem những chuyện lớn hơn, bắt đầu, như những người mác-xít đòi hỏi, từ hạ tầng cơ sở, nghĩa là từ lĩnh vực kinh tế.
Nga là nước nông nghiệp; những cánh đồng rộng lớn với những vùng khí hậu khác nhau đã giúp chúng ta xuất khẩu lúa mì cả ngàn năm nay, thế mà giờ đây chúng ta “đã biến nước Mĩ thành người cung cấp nông sản cho chúng ta”, Canada và Australia cũng chịu chung số phận. Cuộc khủng hoảng thường trực trong lĩnh vực nông nghiệp được giải thích là do thời tiết không thuận lợi [9] , người ta còn phát minh ra một công thức đầy trí tuệ như sau: “Nước Nga nằm trong vùng rủi ro về nông nghiệp”, tuồng như sau Cách mạng Tháng Mười, khí hậu ở Nga đã thay đổi vậy. Nông dân phải ra thành phố mua bánh mì! Liên Xô mua ngũ cốc chủ yếu để chăn nuôi, trong khi điều 1541 Bộ luật hình sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa liên bang Nga lại qui định hình phạt tội mua bánh mì, bột mì và các sản phẩm khác làm từ bột mì để chăn nuôi gia súc, gia cầm đến 3 năm tù giam, kèm theo việc tịch thu gia súc, gia cầm nữa.
Thức ăn cho gia súc lúc nào cũng thiếu. Nhà văn B. Mogiaev kể một hiện tượng như sau: cỏ không được cắt, héo đi và thối rữa, trong khi đó người ta lại thực hiện kế hoạch chuẩn bị thức ăn cho gia súc bằng… cành bạch dương! Những cành bạch dương vẫn thường vang lên trong thi ca bị bẻ… Công nhân bẻ, sinh viên và học sinh cũng bẻ… Các cháu học sinh tốt nghiệp phổ thông không được thi vào đại học: nếu không bẻ đủ số lượng qui định thì không được nhận bằng tốt nghiệp (200 cành một người một ngày)… Dĩ nhiên là bò không ăn cành bạch dương, chúng không phải là người nên không ép được. Những cành bạch dương sẽ nằm đó, khô đi, năm sau bị người ta đem vứt… và lại bẻ tiếp cành mới! (Báo Văn học, 30 tháng 7 năm 1980).
Trong lĩnh vực công nghiệp tình hình cũng không khá hơn. Dưới đây là câu chuyện của ông Valov D., phó tổng biên tập tờ Sự thật dưới nhan đề “Phi lí bình phương”.
Nền kinh tế quốc dân được coi là theo kế hoạch; các kế hoạch kinh tế được soạn thảo và phê duyệt và đa số, không chỉ những người bình thường mà cả các nhà khoa học, đều tin như thế mặc dù chẳng có một kế hoạch nào cả. Lập kế hoạch cho một đất nước rộng lớn như nước ta là việc bất khả thi, có một sự phân bổ, gọi là kế hoạch, theo nguyên tắc “làm hơn năm ngoái”, nghĩa là nếu năm ngoái bạn thực hiện được 100% kế hoạch thì năm nay người ta sẽ giao cho bạn 102% và sẽ không thể nào chứng minh được rằng bạn không thể nào cố thêm được nữa. Vì vậy việc “lập kế hoạch” chỉ cản trở quá trình phát triển vì viên giám đốc có thể hoàn thành 120% kế hoạch sẽ che dấu khả năng của mình, nếu ông ta làm đúng khả năng thì năm sau bộ sẽ giao cho xí nghiệp đó 125%, chẳng cần biết sản phẩm có cần hay không. Chúng ta đã sản xuất được số lượng máy kéo gần gấp 5 lần nước Mĩ (chất lượng dĩ nhiên là khủng khiếp rồi) thế mà người ta vẫn tiếp tục xây dựng một nhà máy khổng lồ (bao giờ nhà máy sau cũng lớn hơn nhà máy trước) chuyên về máy kéo nữa ở Elabug. Khi đã quăng vào đấy hàng triệu đồng người ta mới chợt tỉnh ngộ. Bây giờ phải cải tạo nó thành nhà máy sản xuất ô tô. Với sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài.
Theo G. Arbatov thì vào năm 1989 nước Mĩ giầu nứt đố đổ vách chỉ sản xuất có 6 quả tên lửa hành trình, trong khi Liên Xô, một nước phải xin Mĩ bố thí, lại sản xuất những 120 quả! Tháng 11 năm 1991, Gorbachev nói ở Irkusk rằng chúng ta sản xuất được 64 ngàn xe tăng, nhiều hơn tất cả các nước khác cộng lại. Không dùng vào việc gì và bây giờ phải chi tiền để phá hủy! Thật kì lạ, ngài Tổng thống biết chuyện đó từ khi nào vậy?
Bây giờ xin được chuyển sang các công việc quốc gia. Chủ tịch một đất nước vĩ đại, “người bạn chiến đấu trung thành của Lenin và Stalin”, tức là đồng chí M. Kalinin, người vẫn thường xuyên tiếp các lãnh tụ và đại sứ nước ngoài, thường xuyên trao huân huy chương, ban hành luật lệ, trong khi vợ ông lại ngồi trong trại cải tạo. Người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô trực tiếp hạ lệnh như thế. Sau mấy năm khổ sai, bà được chuyển sang công việc “nhẹ nhàng” hơn, tức là giết rận trong quần áo của tù nhân tại nhà tắm trại giam (Ngọn lửa nhỏ, năm 1988, số 13). Chuyện đó có thể xảy ra ở đâu, ngoài “đất nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên” của chúng ta?
Trong lĩnh vực tinh thần, khoa học và văn học thì mức độ phi lí có thể làm người ta cười đến vỡ bụng: tất cả các vấn đề đều được các quan chức ngu dốt và thiếu hiểu biết trong bộ máy của Ban chấp hành trung ương quyết định. Nếu những kẻ xảo trá như Lysenko chui vào được cấp đó thì chúng có thể cấm bất kì ý tưởng khoa học chân chính nào, đồng thời những điều nhảm nhí nhất lại được chúng tôn thành đỉnh cao của trí tuệ loài người. Lysenko đã tìm mọi cách để tuyên bố rằng môn di truyền học (học thuyết Mendel-Weismann-Morgan) là phản khoa học. Đã sao, các nhà dân chủ phương Tây có thể hỏi, phương Tây chúng tôi cũng thiếu gì những thằng đểu và những thằng ngu? Nhưng nếu ở phương Tây người ta có thể đem chúng ra chế giễu thì ở ta hoàn toàn không có chuyện đấu tranh tư tưởng. Các tư tưởng được Ban chấp hành trung ương phê duyệt chính là chân lí, chỉ được phổ biến các tư tưởng đó; người có tư tưởng sai lầm sẽ bị giết, tư tưởng bị bác bỏ. Các viện và các phòng thí nghiệm về di truyền bị giải tán, các nhà di truyền học lỗi lạc cùng với nhà di truyền học thiên tài của thế kỉ chúng ta là N. Vavilov bị xử bắn hoặc chết trong các trại cải tạo. Khoa di truyền đã bị đẩy lùi đến hàng chục năm. Học thuyết tương đối của Einstein và môn điều khiển học cũng bị coi là phản động và dối trá. Không thể tìm được tên các môn khoa học này trong cuốn bách khoa toàn thư Xô viết dày hàng chục tập.
Liên Xô là nước đầu tiên sản xuất và sử dụng trong tác chiến vũ khí tên lửa. Đầu tiên loại vũ khí này được một nhóm gọi là Nhóm nghiên cứu động cơ phản lực (NCĐCPL), do Sander đứng đầu, thiết kế; họ làm việc này trong thời gian rảnh rỗi (ta gọi là “tự nguyện”). Họ tự gọi đùa mình là nhóm kĩ sư làm việc không công. Trên cơ sở đó, một viện nghiên cứu chuyên ngành được thành lập, thế rồi vì bị vu khống, tất cả đều bị bắt, những người lãnh đạo (Langemak và mấy người nữa) bị xử bắn, những người khác (trong đó có Korolev, người sau này trở thành tổng công trình sư các tầu du hành vũ trụ nổi tiếng) phải vào trại giam, chỉ sau khi xảy ra chiến tranh với Đức, khi Hồng quân, “một đội quân huyền thoại, bách chiến bách thắng” đã chạy về gần đến Moskva, họ mới được chuyển đến các trại đặc biệt dành cho tù nhân có thể tham gia công tác nghiên cứu-thiết kế trong lĩnh vực quân sự (xem cuốn Trong vòng tròn đầu tiên của Solzhenitsyn). Chúng ta đã trọng dụng hiền tài như thế đấy [10] ! Tupolev, tổng công trình sư những chiếc máy bay nổi tiếng một thời, cũng không tránh khỏi cảnh tù đầy.
Những nhà văn, nhà thơ, đạo diễn và nghệ sĩ bất tài nhưng “sẵn sàng ăn theo nói leo” nhận được những mức nhuận bút cao ngất trời, họ còn được huân huy chương, giải thưởng và các danh hiệu cao quí nữa. Sau khi Brezhnev đã treo lên mình đủ loại huân chương (kể cả huân chương “Chiến thắng”) và đủ loại huy chương (kể cả huy chương mang tên Marx vì những đóng góp to lớn trong lĩnh vực xã hội học), ông ta lại nảy ra ý muốn lưu danh thiên cổ trong cả lĩnh vực văn học nữa. Mấy cuốn hồi kí của ông ta do một bọn văn nô chắp bút liền được tuyên bố các kiệt tác văn chương. Nhà văn Trakovsky còn kêu gọi các văn sĩ học tập văn phong của… Brezhnev nữa! Các cuốn sách này được dựng thành phim và kịch, cái nào cũng được giải thưởng và được ca ngợi hết mức. Đáng tiếc là Brezhnev đã chết ngay sau đó, nếu không thể nào chúng ta cũng được xem vở opera, mà chắc chắn một nhạc sĩ nào đó đã viết xong rồi. Tất nhiên là ngay sau khi ông ta chết thì tất cả những kiệt tác văn chương cùng với bức tượng “vinh danh chiến công” của ông ta tại Đất Nhỏ đều được vứt vào sọt rác.
Thế nhưng số phận của các nghệ sĩ thực tài, nói chung, đều đáng buồn cả. Gumilev, Oreshin, Svetaeva, Akhmatova, Mikhoels, Pasternak, Solzhenitsyn, Brodsky … danh sách dài lắm, không thể nào kể ra hết được, người bị giết, người bị đi đày, người bị đàn áp... Tờ Moskva buổi chiều, trong bài “Một nền văn chương bị hành quyết” dẫn ra danh sách 98 nhà văn ở Moskva bị giết (Moskva buổi chiều, ngày 12 tháng 11 năm 1988), trên toàn Liên Xô con số là gần 300, tuy rằng chưa ai có số liệu đầy đủ.
Dư luận rộng rãi đã biết viện sĩ Andrey Sakharov, ông bị đi đầy ở Gorki mà không qua một phiên toà, một vụ xử án nào… Các đồng nghiệp-viện sĩ đã hành động ra sao? Họ đã phản đối chứ? Không phải thế! Họ đã lên án ông một các đểu giả nhất! Ngay tại kì họp của “các đại biểu nhân dân” thời “đổi mới” người ta cũng không cho Sakharov nói, người ta đã bịt miệng, đã chẹn họng ông…
Đấy chỉ vài nét chấm phá về cuộc sống đầy phi lí của chúng ta. Tôi không biết liệu độc giả có nhận thấy sự va chạm giữa những cái phi lí đó với pháp luật, mặc dù chúng có liên hệ trực tiếp với các lĩnh vực khác?
Nếu bạn là một người làm thơ; những bài thơ tình ái, không liên quan gì đến chính trị. Nhưng nếu “Đảng” coi đấy là những bài thơ có hại thì cả tác giả, cả thơ đều phải bị tiêu diệt. Nhưng làm sao bảo vệ một cách hợp pháp? Nếu có một người dũng cảm dám làm chuyện đó thì anh ta cũng chịu chung số phận với bạn. Nếu có một người tỏ lòng thương hại thì cũng không có ai biết.
Nếu bạn được lệnh đi bẻ cành bạch dương cho những con bò khốn khổ thì bạn sẽ đi mặc dù biết rằng đấy là việc làm hoàn toàn vô nghĩa và ngu xuẩn. Bạn không có phương tiện phản đối một cách hợp pháp, phản đối một cách ngấm ngầm cũng không được nốt. Còn phản đối bất hợp pháp thì bạn sẽ bị bỏ tù ngay.
Nếu môn di truyền học (điều khiển học, thuyết tương đối ..v..v..) bị “Đảng” coi là giả khoa học và tiêu diệt mà bạn lại là một chuyên gia trong lĩnh vực di truyền thì xin hãy cám ơn số phận vì người ta chưa bắn bạn mà chỉ bắt bạn đi quét rác thôi. Có bộ luật nào hay tổ chức nhà nước nào đủ sức bảo vệ bạn không?
Nếu bạn là giám đốc một nhà máy và bạn biết rõ rằng đang cho ra một loại sản phẩm chẳng ai cần, một loại sản phẩm đã chất đống trong các nhà kho và các bãi rác rồi thì bạn vẫn sẽ tiếp tục sản xuất vì kế hoạch là luật, phải thực hiện (sản xuất của chúng ta là như thế) “bằng mọi giá”!
Cuối cùng, nếu bạn là chủ tịch, người nắm chức vụ cao nhất… Nhưng nếu vợ bạn bị người ta vu khống, trong đó có tội gián điệp và khủng bố rồi tống vào tù, cho đi giết rận. Luật nào của quốc gia có thể cứu bà ấy?
Không hiểu điều này thì không thể hiểu được luật pháp Liên Xô, nó chính là luật pháp của sự phi lí.
Điều phi lí lớn nhất của xã hội Liên Xô là luật pháp thời nông nô được khoác lên mình hình thức xã hội chủ nghĩa. Những người nông nô xây dựng chủ nghĩa xã hội tối tăm. Người ta kêu gọi công dân với xiềng ở chân và còng số tám trên tay bay đến những chân trời tươi sáng.
Không hiểu điều đó thì không thể hiểu được nước Nga.
Còn 11 kì nữa
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Tất cả các từ “Đảng” trong cuốn sách này đều chỉ Đảng Cộng sản. BT
[2]"Trong mười năm tới (1961-1970) Liên Xô, trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa cộng sản, sẽ vượt Mĩ, nước tư bản mạnh nhất và giầu có nhất, về số lượng sản phẩm trên đầu người… Như vậy là tại Liên Xô đã xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản…” Cương lĩnh thứ III của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thông qua tại đại hội XXII, năm 1961.
[3]Cục trưởng cục thống kê bị bắt vì báo cáo láo theo chỉ thị của bí thư tỉnh ủy. Ông này đã trả lời điều tra viên như sau: “Nếu tôi không làm thế thì bây giờ sẽ có một cục trưởng khác ngồi ở đây” (Tin tức, ngày 27 tháng 12 năm 1986). Từ đó: “… thông tin chính xác về kinh tế thì ngay Bộ chính trị cũng không có” (Ngọn lửa nhỏ, 1988, số 46).
[4]Nông trường Novopokrovsky (tỉnh Kuban) 5 năm sản xuất được 2,4 ngàn tấn sữa, nhưng giao nộp tới .. 4,2 ngàn tấn! Cứ ba xí nghiệp thì có một báo cáo láo (Sự thật, ngày 26 tháng 3 năm 1990). Năm năm cải tổ! Nhưng như thế không có nghĩa là các xí nghiệp còn lại không báo cáo láo.
[5]"Hiện nay tất cả các công tố viên đều đang đấu tranh với hiện tượng vi phạm kỉ luật tài chính rất thịnh hành này (tạp chí Pháp chế Liên Xô, năm 1985, số 12, trang 49). Xin nói thêm rằng theo luật thì đây không phải là vi phạm kỉ luật tài chính mà là tội hình sự - điều 152 bộ luật hình sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa liên bang Nga.
[6]Điều này được toà án tối cao Liên Xô công nhận vào năm 1986, khi toà án ghi nhận “sự gia tăng một cách đáng ngạc nhiên” (Báo Văn học, ngày 17 tháng 12 năm 1986). Các số liệu cụ thể chỉ được công bố từ năm 1988.
[7]N. Kuznesova. Tội ác và tình trạng phạm tội. Bản tóm tắt luận án. M., năm 1968, trang 2. Như đã thấy người ta nói về tình trạng phạm tội, nhưng lại dẫn ra số liệu về сác vụ án, thêm nữa so sánh được lấy từ những năm 1963-1965, là lúc theo chỉ thị của Khrushchev người ta đã ngưng việc bắt bớ và đưa ra toà hàng loạt mà chuyyển các tội phạm cho các xí nghiệp và tổ chức xã hội “bảo lãnh”.
[8]R. Konkvest trong tác phẩm Mùa buồn (London, 1988) đã trình bày lịch sử vụ diệt chủng được tổ chức bởi lãnh đạo Đảng Cộng sản. Ông chỉ ra rằng người ta đã đi từ phủ nhận một cách quyết liệt và hoàn toàn nạn đói (kể cả những người theo tư tưởng tự do ở phương Tây được “tận mắt chứng kiến” như Bernard Shaw) ở Liên Xô đến việc công nhận một cách không chính thức.
[9]Tiếu lâm: Bốn khó khăn của nông nghiệp Nga: mùa đông, mùa xuân, mùa hè, mùa thu.
[10]Tháng 12 năm 1991 (sau nửa thế kỉ) công lao của nhóm NCĐCPL mới được ghi nhận. Chính Gorbachev đã trao huân chương... cho các goá phụ!
Nguồn: Nguyên bản tiếng Nga: http://lit.lib.ru/t/tille_a/text_0010.shtml
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011
Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011
Nhất định cậu này do nghe lỏm nên cắt xén nội dung cuộc họp nghiêm túc của các cụ rồi!
Chi bộ hưu họp nghe Nghị Quyết đại hội và tình hình chính trị - xã hội
Chính trị - xã hội
Thành (sinh viên Kinh Tế QD)
Ông nội tôi 73 tuổi, đã sinh hoạt chi bộ hưu của phường được 13 năm. Bình thường cụ vẫn đi bộ gần 1km tới dự họp, nhưng lần này trời mưa, tôi đưa cụ đi bằng xe máy. Các cụ ông, cụ bà - cả thảy khoảng trên 4 chục - ngồi nghe hai nội dung:
1) Nghị Quyết đại hội XI: do cụ bí thư chi bộ trình bày;
2) Tình hình an ninh chính trị - xã hội: do một trung tá công an trình bày.
Do trời còn mưa, đồng thời xăng xái nhận việc “chè nước” phục vụ các cụ, tôi có cớ nán lại nghe lỏm. Nhiều chuyện thú vị ra phết!
Cụ bí thư gần 70 tuổi, tự giới thiệu đã được cử lên tận “quận” (hoặc lên tận “thành”?) trực tiếp nghe một ông tiến sĩ Mác-Lê ở trường Nguyễn Ái Quốc trung ương nói chuyện.
Cụ giở mấy trang ghi đặc chữ ra, vừa đọc vừa cắt nghĩa thêm cho mọi người cùng nghe. Tôi nhập tâm được một số nội dung như dưới đây:
Trên 80 năm tồn tại, “đảng ta” có 4 cương lĩnh. Các cương lĩnh đẻ ra được 11 nghị quyết đại hội. Từ nghị quyết đại hội, sẽ có những nghị quyết “con”, “cháu”... (của ban chấp hành trung ương, của bộ chính trị...). Ví dụ, đại hội lần trước nhấn mạnh tới xây dựng các giai cấp của hệ thống chính trị, do vậy ban chấp hành trung ương ra nghị quyết về:
- Thanh niên, Nông dân, Công nhân và Trí thức.
- Có cả một nghị quyết về chống tham nhũng - thay cho Sắc Lệnh, Nghị Định trước đây: vì chúng ít hiệu quả. (Một cụ bà “đế” vào: Càng chống, càng tăng).
Nghị quyết đại hội lần này quan trọng ở chỗ nó cụ thể hoá “Cương lĩnh 1992 - bổ sung và phát triển”. Chỉ cần một đại hội nữa là VN thành nước công nghiệp!
Trong 4 cương lĩnh thì riêng năm 1930 đã có hai cái, cái nọ phủ định cái kia. Đến năm 1952 lại có một cương lĩnh mới, với nội dung:
- Khẳng định cách mạng Việt Nam trước mắt là đuổi thực dân (luôn cả tư sản mại bản) và diệt phong kiến.
- Tiếp đó, đảng sẽ dẫn đường cho nhân dân (gồm 4 giai cấp: Công, Nông, Tiểu, Tư) đi lên CNXH sau khi “cải tạo tư sản”.
- Đến năm 1992, Liên Xô vừa mới sụp đổ, đảng ta vẫn khẳng định sẽ theo Trung Quốc tiếp tục xây dựng CHXN. Tuy vậy, Cương Lĩnh 1992 không thể nói sẽ xây dựng cái thứ CNXH vừa mới sụp đổ, mà mô hình mới thì chưa có. Cho nên đảng đã nói né thành... xây dựng một nước VN “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Mọi người sẽ hiểu ngầm: đó chính là CNXH.
Thời đó, các vị cãi nhau rất nhiều:
a) Phải có dân chủ thì mới có công bằng, do vậy đúng logic thì (trong câu trên) phải đặt “dân chủ” trước “công bằng”.
b) Chết nỗi, nếu như vậy thì câu trên sẽ thành “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Mọi người sẽ lầm tưởng “đảng ta” đã từ bỏ CNCS để mà chuyển thành “đảng xã hội dân chủ” – như một đảng tư sản (ví dụ, đảng ở Thuỵ Điển hiện nay, sinh ra từ thời Engels còn lãnh đạo CS quốc tế).
c) Do vậy, đảng ta đành đặt “dân chủ” sau “công bằng”.
Đại hội lần này không đề ra cương lĩnh mới, mà chỉ “bổ sung và phát triển” cương lĩnh 1992.
- Điều sáng tạo là cái câu trên được viết thành: Xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
- Tuy nhiên, từ báo cáo của vị tiến sĩ, mọi người có thể thấy: Đây là đại hội duy nhất mà các đại biểu dám bỏ phiếu phản đối một điều cốt lõi - thuộc bản chất CNXH - trong dự thảo cương lĩnh. Cụ thể là bỏ hẳn cái ý “sẽ công hữu hoá các tư liệu sản xuất”.
Cuối cùng, vị báo cáo viên (của trường đảng) nhấn mạnh mấy ý:
- Từ lâu đảng không còn nói “chuyên chính vô sản” nhưng vẫn kiên quyết thực hiện nó. Cụ thể là vụ trấn áp Cù Huy Hà Vũ để cảnh báo bọn trí thức “ăn phải bả tư sản”. Bọn này do chế độ ta đào tạo - nhưng vô ơn - khi giao lưu với xã hội và tài liệu tư sản, hoặc bị thế lực thù địch xúi giục, đã chống lại đảng và nhà nước ta. Có kẻ đã là uỷ viên trung ương, thậm chí uỷ viên bộ chính trị, làm đến phó thủ tướng, hoặc chủ tịch quốc hội... mà nay cũng “bất mãn” sinh ra chống đảng.
Đây là cuộc họp nội bộ, chúng ta có thể nói thẳng với nhau: Điều 88 là sự vận dụng sáng tạo CCVS vào pháp luật VN. Nó ghép bọn trí thức bất mãn vào tội hình sự, nói lên chế độ ta không có ai bất đồng chính kiến.
- Tới đây, hễ còn kẻ nào hoạt động như CHHV, kẻ đó vẫn đối đầu với điều 88 - vũ khí của giai cấp vô sản VN chống lại kẻ thù. Trong nhiệm kỳ 5 năm, quốc hội mới sẽ không bàn tới điều 88. Chúng đừng ảo tưởng.
- Gần đây nhất, Võ Thị Hảo và Nguyễn Văn Đài đã viết bài đăng ở BBC với nội dung rất phản động, đồng thời rất nguy hiểm.
Bọn trí thức và văn nghệ sĩ hoạt động công khai, tuy khá kín kẽ, ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng hồ sơ phạm tội của chúng đã đủ dày.
- Đảng ta phải nhấn mạnh hơn nữa một quan điểm “cốt tử”: Hồ Chí Minh là nhà Macxit-Leninit lỗi lạc và trung kiên... để chống lại một luận điệu của văn nghệ sĩ và trí thức phản động cố chứng minh rằng HCM là nhà yêu nước, yêu dân tộc... Cái đó mới nguy hiểm cho mục tiêu xây dựng CNXH hiện nay.
Chẳng thà, chúng cứ chửi bới bác Hồ, lại không nguy hiểm bằng...
Ông tôi vẫn gọi BBC là “đài địch”, nhưng chính do đi họp “quán triệt” Nghị Quyết XI mà cụ sinh ra tò mò muốn biết hai bài của Hảo, Đài nguy hiểm thế nào. Khi tôi lấy hai bài đó cho cụ đọc, cụ bảo: “Nguy hiểm thật! Chúng áp dụng “gậy ông đập lưng ông” thế này thì ta khó chống đỡ lắm”.
Đồng chí trung tá công an cho hội nghị biết:
- Công an phường ta gần đây có thành tích rất lớn: Bắt được nhiều kẻ trộm, gái điếm, dân nghiện. Trong 3 tháng vừa qua đưa ra toà được 4 thanh thiếu niên phạm tội và giáo dục 3 phụ nữ trong phường có hành vi bán dâm.
Tuy nhiên, các hiện tượng tiêu cực này vẫn có xu hướng phát triển.
Vốn xuất thân nông dân, đồng chí đã dùng hình ảnh: Chúng ta cật lực phát cỏ, nhưng cỏ dại mọc nhanh hơn tốc độ phát của chúng ta. Cụ bí thư “chêm” vào: Tiêu cực như quái vật đang lồng lộn xông lên, còn chúng ta cứ nắm đuôi nó kéo lại” (cụ phát âm lồng lộn, tôi nghe như “lông lồn”).
- Con luật sư Công Nhân từ ngày đi tù về, lấy chồng, thì... bất chấp quản chế. “Thích đi đâu là đi”, cản nó, nó chửi “bố” ngay. Lý lẽ với nó, chỉ có thua. Phát xít với nó, nó dám nói cho cả thế giới biết. Đến nhà nó, nó chặn từ cửa: Bác cần nói gì, cứ nói đi. Bác không hẹn trước và chưa được sự đồng ý của gia đình, xin bác chớ vào nhà... Có nản không cơ chứ?!
- Bọn công giáo mới đáng ngán chớ! Trước kia, mỗi lần hành lễ, chúng chỉ tập hợp đông lắm là một ngàn. Nay, là nhiều ngàn, có lần năm ngàn... Rất khó đối phó. Lôi thôi, chúng nó đưa tên, đưa ảnh của mình cho cả nước, cả thế giới biết.
- Đối phó với cái đám “tụ họp đông người” (để phản đối TQ) cũng rắc rối.
Mình chụp ảnh những tên cầm đầu “mới nổi lên” để theo dõi, khống chế, thì không khó. Nhưng đáng sợ nhất là chính họ cũng chụp ảnh và quay phim hành vi của mình. Không hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng “chết”, mà cố hoàn thành thì phải có xô sát, bị ghi hình lại càng “chết”...
Chính trị - xã hội
Thành (sinh viên Kinh Tế QD)
Ông nội tôi 73 tuổi, đã sinh hoạt chi bộ hưu của phường được 13 năm. Bình thường cụ vẫn đi bộ gần 1km tới dự họp, nhưng lần này trời mưa, tôi đưa cụ đi bằng xe máy. Các cụ ông, cụ bà - cả thảy khoảng trên 4 chục - ngồi nghe hai nội dung:
1) Nghị Quyết đại hội XI: do cụ bí thư chi bộ trình bày;
2) Tình hình an ninh chính trị - xã hội: do một trung tá công an trình bày.
Do trời còn mưa, đồng thời xăng xái nhận việc “chè nước” phục vụ các cụ, tôi có cớ nán lại nghe lỏm. Nhiều chuyện thú vị ra phết!
Cụ bí thư gần 70 tuổi, tự giới thiệu đã được cử lên tận “quận” (hoặc lên tận “thành”?) trực tiếp nghe một ông tiến sĩ Mác-Lê ở trường Nguyễn Ái Quốc trung ương nói chuyện.
Cụ giở mấy trang ghi đặc chữ ra, vừa đọc vừa cắt nghĩa thêm cho mọi người cùng nghe. Tôi nhập tâm được một số nội dung như dưới đây:
Trên 80 năm tồn tại, “đảng ta” có 4 cương lĩnh. Các cương lĩnh đẻ ra được 11 nghị quyết đại hội. Từ nghị quyết đại hội, sẽ có những nghị quyết “con”, “cháu”... (của ban chấp hành trung ương, của bộ chính trị...). Ví dụ, đại hội lần trước nhấn mạnh tới xây dựng các giai cấp của hệ thống chính trị, do vậy ban chấp hành trung ương ra nghị quyết về:
- Thanh niên, Nông dân, Công nhân và Trí thức.
- Có cả một nghị quyết về chống tham nhũng - thay cho Sắc Lệnh, Nghị Định trước đây: vì chúng ít hiệu quả. (Một cụ bà “đế” vào: Càng chống, càng tăng).
Nghị quyết đại hội lần này quan trọng ở chỗ nó cụ thể hoá “Cương lĩnh 1992 - bổ sung và phát triển”. Chỉ cần một đại hội nữa là VN thành nước công nghiệp!
Trong 4 cương lĩnh thì riêng năm 1930 đã có hai cái, cái nọ phủ định cái kia. Đến năm 1952 lại có một cương lĩnh mới, với nội dung:
- Khẳng định cách mạng Việt Nam trước mắt là đuổi thực dân (luôn cả tư sản mại bản) và diệt phong kiến.
- Tiếp đó, đảng sẽ dẫn đường cho nhân dân (gồm 4 giai cấp: Công, Nông, Tiểu, Tư) đi lên CNXH sau khi “cải tạo tư sản”.
- Đến năm 1992, Liên Xô vừa mới sụp đổ, đảng ta vẫn khẳng định sẽ theo Trung Quốc tiếp tục xây dựng CHXN. Tuy vậy, Cương Lĩnh 1992 không thể nói sẽ xây dựng cái thứ CNXH vừa mới sụp đổ, mà mô hình mới thì chưa có. Cho nên đảng đã nói né thành... xây dựng một nước VN “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Mọi người sẽ hiểu ngầm: đó chính là CNXH.
Thời đó, các vị cãi nhau rất nhiều:
a) Phải có dân chủ thì mới có công bằng, do vậy đúng logic thì (trong câu trên) phải đặt “dân chủ” trước “công bằng”.
b) Chết nỗi, nếu như vậy thì câu trên sẽ thành “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Mọi người sẽ lầm tưởng “đảng ta” đã từ bỏ CNCS để mà chuyển thành “đảng xã hội dân chủ” – như một đảng tư sản (ví dụ, đảng ở Thuỵ Điển hiện nay, sinh ra từ thời Engels còn lãnh đạo CS quốc tế).
c) Do vậy, đảng ta đành đặt “dân chủ” sau “công bằng”.
Đại hội lần này không đề ra cương lĩnh mới, mà chỉ “bổ sung và phát triển” cương lĩnh 1992.
- Điều sáng tạo là cái câu trên được viết thành: Xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
- Tuy nhiên, từ báo cáo của vị tiến sĩ, mọi người có thể thấy: Đây là đại hội duy nhất mà các đại biểu dám bỏ phiếu phản đối một điều cốt lõi - thuộc bản chất CNXH - trong dự thảo cương lĩnh. Cụ thể là bỏ hẳn cái ý “sẽ công hữu hoá các tư liệu sản xuất”.
Cuối cùng, vị báo cáo viên (của trường đảng) nhấn mạnh mấy ý:
- Từ lâu đảng không còn nói “chuyên chính vô sản” nhưng vẫn kiên quyết thực hiện nó. Cụ thể là vụ trấn áp Cù Huy Hà Vũ để cảnh báo bọn trí thức “ăn phải bả tư sản”. Bọn này do chế độ ta đào tạo - nhưng vô ơn - khi giao lưu với xã hội và tài liệu tư sản, hoặc bị thế lực thù địch xúi giục, đã chống lại đảng và nhà nước ta. Có kẻ đã là uỷ viên trung ương, thậm chí uỷ viên bộ chính trị, làm đến phó thủ tướng, hoặc chủ tịch quốc hội... mà nay cũng “bất mãn” sinh ra chống đảng.
Đây là cuộc họp nội bộ, chúng ta có thể nói thẳng với nhau: Điều 88 là sự vận dụng sáng tạo CCVS vào pháp luật VN. Nó ghép bọn trí thức bất mãn vào tội hình sự, nói lên chế độ ta không có ai bất đồng chính kiến.
- Tới đây, hễ còn kẻ nào hoạt động như CHHV, kẻ đó vẫn đối đầu với điều 88 - vũ khí của giai cấp vô sản VN chống lại kẻ thù. Trong nhiệm kỳ 5 năm, quốc hội mới sẽ không bàn tới điều 88. Chúng đừng ảo tưởng.
- Gần đây nhất, Võ Thị Hảo và Nguyễn Văn Đài đã viết bài đăng ở BBC với nội dung rất phản động, đồng thời rất nguy hiểm.
Bọn trí thức và văn nghệ sĩ hoạt động công khai, tuy khá kín kẽ, ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng hồ sơ phạm tội của chúng đã đủ dày.
- Đảng ta phải nhấn mạnh hơn nữa một quan điểm “cốt tử”: Hồ Chí Minh là nhà Macxit-Leninit lỗi lạc và trung kiên... để chống lại một luận điệu của văn nghệ sĩ và trí thức phản động cố chứng minh rằng HCM là nhà yêu nước, yêu dân tộc... Cái đó mới nguy hiểm cho mục tiêu xây dựng CNXH hiện nay.
Chẳng thà, chúng cứ chửi bới bác Hồ, lại không nguy hiểm bằng...
Ông tôi vẫn gọi BBC là “đài địch”, nhưng chính do đi họp “quán triệt” Nghị Quyết XI mà cụ sinh ra tò mò muốn biết hai bài của Hảo, Đài nguy hiểm thế nào. Khi tôi lấy hai bài đó cho cụ đọc, cụ bảo: “Nguy hiểm thật! Chúng áp dụng “gậy ông đập lưng ông” thế này thì ta khó chống đỡ lắm”.
Đồng chí trung tá công an cho hội nghị biết:
- Công an phường ta gần đây có thành tích rất lớn: Bắt được nhiều kẻ trộm, gái điếm, dân nghiện. Trong 3 tháng vừa qua đưa ra toà được 4 thanh thiếu niên phạm tội và giáo dục 3 phụ nữ trong phường có hành vi bán dâm.
Tuy nhiên, các hiện tượng tiêu cực này vẫn có xu hướng phát triển.
Vốn xuất thân nông dân, đồng chí đã dùng hình ảnh: Chúng ta cật lực phát cỏ, nhưng cỏ dại mọc nhanh hơn tốc độ phát của chúng ta. Cụ bí thư “chêm” vào: Tiêu cực như quái vật đang lồng lộn xông lên, còn chúng ta cứ nắm đuôi nó kéo lại” (cụ phát âm lồng lộn, tôi nghe như “lông lồn”).
- Con luật sư Công Nhân từ ngày đi tù về, lấy chồng, thì... bất chấp quản chế. “Thích đi đâu là đi”, cản nó, nó chửi “bố” ngay. Lý lẽ với nó, chỉ có thua. Phát xít với nó, nó dám nói cho cả thế giới biết. Đến nhà nó, nó chặn từ cửa: Bác cần nói gì, cứ nói đi. Bác không hẹn trước và chưa được sự đồng ý của gia đình, xin bác chớ vào nhà... Có nản không cơ chứ?!
- Bọn công giáo mới đáng ngán chớ! Trước kia, mỗi lần hành lễ, chúng chỉ tập hợp đông lắm là một ngàn. Nay, là nhiều ngàn, có lần năm ngàn... Rất khó đối phó. Lôi thôi, chúng nó đưa tên, đưa ảnh của mình cho cả nước, cả thế giới biết.
- Đối phó với cái đám “tụ họp đông người” (để phản đối TQ) cũng rắc rối.
Mình chụp ảnh những tên cầm đầu “mới nổi lên” để theo dõi, khống chế, thì không khó. Nhưng đáng sợ nhất là chính họ cũng chụp ảnh và quay phim hành vi của mình. Không hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng “chết”, mà cố hoàn thành thì phải có xô sát, bị ghi hình lại càng “chết”...
NHỚ NGƯỜI THẦY CŨ CỦA TÔI
Tình cờ vào trang báo điện tử "Tạp chí Tuyên giáo" thấy bài viết của GS,TSKH Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyên Phó Hiệu trưởng trường ĐHY HN, Nguyên Thứ trưởng Bộ y tê, Nguyên Phó ban Khoa giáo Trung ương, xin mạn phép GS được coppy bài của GS về Blog của tôi, đối với GS như là một sự tri ân đối với người anh, người đồng nghiệp đáng kính, còn tôi coi như một sự tri ân đối với người thầy cũ vô cùng đáng kính của tôi.
Ngành y tế Việt Nam vừa mất đi một nhà lãnh đạo đức độ và tài năng - GSTS Đỗ Nguyên Phương
23:18' 5/10/2008
(TCTG) Chúng tôi những người học trò và đồng nghiệp của Anh thật sửng sốt và đau xót khi nhận được tin GSTS Đỗ Nguyên Phương, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng các khoá VIII, IX , nguyên Bộ trưởng Bộ y tế (1995-2002), nguyên Trưởng ban Khoa giáo Trung ương (2002 – 2007) đã từ trần lúc 11.05 ngày 3 tháng 10 năm 2008.
Mãi 24 giờ sau khi nhận được tin Anh mất, tôi mới trấn tĩnh và mới có thể ngồi để viết ra những dòng chữ này vừa để tưởng nhớ Anh vừa để thể hiện tấm lòng tri ân sâu sắc với một người thầy đã dìu dắt tôi trong các bước đường công tác. Hình ảnh của anh mặc áo trấn thủ (một loại áo bông không có tay và chần bằng đường may hình quả trám mà bộ đội Cụ Hồ mặc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp) với tư cách Bí thư Đoàn Thanh niên Lao Động (nay là Đoàn TNCSHCM) trường đại học Y - Dược Hà Nội, niềm nở tiếp đón chúng tôi bước chân vào năm thứ nhất, trường Đại học Y Hà Nội 46 năm về trước, hay hình ảnh Anh với mũ tai bèo và bộ quân phục quân Giải phóng lúc chia tay chúng tôi năm 1972, để Anh vào chiến truờng B2, vẫn giữ mãi trong tôi suốt những năm tháng qua. Ở Anh, suốt cuộc đời lúc nào cũng toát lên hình ảnh một con người nhiệt tình, trách nhiệm, đôn hậu, là niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho đồng nghiệp và học trò.
Bài học lớn nhất mà chúng tôi học được từ Anh, đó là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa chính trị và chuyên môn (y học và y tế): trong chuyên môn có chính trị và trong chính trị có chuyên môn. Khi tôi còn là cán bộ giảng dạy Đại học Y Hà Nội và tham gia thường vụ Đoàn Thanh niên nhà trường, còn Anh là Bí thư Đoàn trường, nhiều lần anh chỉ dẫn tôi cách tổ chức hội nghị bàn về phong cách học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ trẻ và sinh viên trong nhà trường. Vào thời đó, chính trị là thống soái; chính trị đi trước, chuyên môn theo sau, chính trị và chuyên môn dễ tách rời, lúc coi trọng cái này nhưng coi nhẹ cái kia. Khi bàn việc học tập của sinh viên, có xu hướng chỉ coi trọng xây dựng động cơ học tập, còn phương pháp học thường bị coi nhẹ. Vì vậy các bài thuyết trình chỉ dừng lại ở cách nói chung chung học tập vì lý tưởng cách mạng, vì tương lai, vì nhân dân v.v.. mà ít nói phải làm thế nào để học giỏi. Anh đã dặn tôi phải giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên, nhưng nếu thật sự vì lý tưởng cách mạng thì sinh viên phải cần và phải biết học giỏi. Thế là Đoàn Thanh niên nhà trường đã tổ chức nhiều hội thảo để giới thiệu kinh nghiệm hay của những sinh viên giỏi trong các khoá học. Không ngờ nhiều sáng kiến hay được chia sẻ và một phương pháp được đề cao là sinh viên phải chủ động và tự học là chính, thay cho lối học tổ nhóm truyền khẩu, thụ động. Rồi có lúc tranh luận diễn ra mạnh mẽ và có người quy kết Anh và tôi mang nặng “tư tưởng chuyên môn thuần tuý”. Nhưng Anh đâu có phải như vậy. Khi Anh đã ở cuơng vị Bộ trưởng Bộ Y tế, và tôi vừa được đề bạt là Thứ trưởng giúp việc cho Anh, Anh gọi tôi vào phòng làm việc và nói với tôi rằng : "Cậu là một cán bộ khoa học trẻ ( xin nói thêm năm 1996 tôi là cán bộ còn trẻ trong ngành Y được phong học hàm giáo sư, và lại được vinh dự được phong cùng một đợt với Anh, Anh là giáo sư triết học, còn tôi là giáo sư Y học), nhưng làm quản lý không phải chỉ cần có chuyên môn. Cậu phải cắp sách đến học nghiêm chỉnh một khoá tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và tớ giao cho cậu nghiên cứu chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về sức khoẻ và công tác chăm sóc sức khoẻ. Đây sẽ là cái gậy để cậu vươn lên trong công việc quản lý y tế”. Tuân theo lời Anh, tôi đã đến Học viện để theo học lớp tại chức 4 năm và căm cụi nghiên cứu chuyên đề trên. Bây giờ ngẫm lại lời anh dặn mới thấy hết ý sâu xa trong kết hợp giữa chính trị và chuyên môn.
Cũng chính với sự kết hợp nhuần nhuyễn đó mà trong tư tưởng của Anh, định hướng “Công bằng” luôn luôn là chủ đề xuyên suốt trong quản lý y tế của nước ta ở thời Đổi mới với cách quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Bước vào thời kỳ mở cửa 1986, chúng ta nghĩ một cách đơn giản, khi áp dụng cơ chế thị trường vào quản lý kinh tế thì đương nhiên sẽ có một mô hình y tế phù hợp và bắt nhịp với cơ chế đó. Đâu có biết ngay trong cơ chế thị trường, nền y tế cũng có nhiều kiểu mô hình: có loại phù hợp với thị trường tự do ( lấy lợi nhuận là mục tiêu của nền y tế) và có loại phù hợp với thị trường xã hội ( lấy nhân đạo và công bằng là mục tiêu chính của y tế). Do không có định hướng ngay từ đầu, nên trong những năm cuối của thập kỷ 80 và hai năm đầu của thập kỷ 90, nền y tế của ta đã rơi vào sự khủng hoảng nghiêm trọng, và y tế cơ sở đã đứng bên bờ vực thẳm của sự tan rã.
Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đề ra những quan điểm cơ bản của y tế trong thời kỳ Đổi mới. Từ đó chúng ta mới có phương hướng rõ ràng về việc xây dựng một nền y tế trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Song mặt trái của cơ chế thị trường mang lại sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn ngày một sâu sắc. Năm 1995 khi Anh được Trung ương điều chuyển từ cương vị Phó Giám đốc thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh sang làm Bộ trưởng Bộ Y tế, ngành y tế đang đứng trước những thách thức lớn: nhân đạo hay thương mại hoá?, y đức hay lời lãi.??...Rồi một lần, Anh đến chúc Tết Bác Phạm Văn Đồng, Bác cầm tay Anh nói to từng chữ : “ Các anh không được biến bệnh viện thành cái chợ và trong cái chợ ấy người thầy thuốc là con buôn”. Rời Phủ Chủ tịch ra về, Anh đến thẳng nhà tôi để chúc tết mẹ tôi và gia đình. Với nét mặt vẫn còn vẻ suy tư, Anh nhắc lại với tôi lời dạy của Bác Phạm Văn Đồng. Anh chia sẻ với tôi : “Sâu sắc quá cậu ạ, chí lý quá cậu ạ và lớn lao quá cậu ạ . Tớ với cậu phải làm gì đây”. Mười hai điều y đức của Anh ra đời trong hoàn cảnh đó. Khái niệm “Công bằng" trong chăm sóc sức khoẻ được Anh làm sâu sắc thêm trong hoàn cảnh đó.
Sự nhuần nhuyễn giữa chính trị và chuyên môn trong Anh không chỉ trên bình diện lý luận mà còn trong phong cách làm việc. Một lần được tháp tùng Anh thăm một xã của huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (lúc đó còn gọi là Hậu Giang), thấy xã có một chị bác sỹ công tác nên việc khám chữa bệnh của nhân dân được cải thiện rất nhiều, nhân dân không phải đi xa nhất là mùa nước nổi, trạm y tế quy củ và sạch đẹp. Anh quay lai hỏi tôi ( lúc ấy tôi vừa làm thứ trưởng vừa làm vụ trưởng TCCB): “Sao ta không đưa việc này thành phong trào hở cậu”. Lặn lội vào thực tiễn, rồi từ thực tiễn rút ra bài học và nâng thành chính sách (cái mà ngày nay Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo làm chính sách phải dựa trên bằng chứng) - một tấm gương lớn ở Anh. Sau này bắt chước Anh, có lần tôi thăm một trường tại huyện Tân Biên, Tây Ninh và chợt thấy khẩu hiệu treo trên cổng nhà trường, đại ý thầy trò nhà trường quyết phấn đấu thành trường chuẩn quốc gia. Tôi chợt nghĩ tại sao ngành mình không xây dựng xã đạt chuẩn y tế quốc gia. Tôi về báo cáo Anh, Anh cuời một cách rất tình cảm và khen tôi:” Cậu đã lên tay rồi đấy”. Ý tưởng và chủ trương xã đạt chuẩn y tế quốc gia cũng bắt đầu từ thực tiễn.
Biết tôi say mê với chuyên môn ghép thận, nhưng có lần Anh tâm sự và dặn tôi: "Ghép thận cứu người bệnh cũng tốt và cũng cần, nhưng cậu hãy đưa nhiều bác sỹ giỏi của ngành mình xuống các tỉnh, huyện, xã khó khăn để cầm tay chỉ việc cho tuyến dưới. Việc này sẽ cứu được nhiều người hơn”. Anh giao cho tôi trực tiếp chỉ đạo phong trào này và trực tiếp dẫn các bác sỹ của Chợ Rẫy về với Kiên Giang, Bạch Mai về với Tuyên Quang, Thành phố Hồ Chí Minh về với Bình Phước, Việt Đức về với Cao Bằng, Trung ương Huế về với KonTum v.v.. Sự nhuần nhuyễn giữa chính trị và chuyên môn trong Anh lại càng được thể hiện khi gay cấn. Đầu năm 2001, khi xẩy ra vụ bạo loạn chính trị tại các tỉnh Tây Nguyên, Anh đã chỉ thị cho y tế các tỉnh Tây Nguyên tổ chức thầy thuốc mang cơm, mang nước, mang thuốc và mang cả chính sách của Đảng đến với dân”. Việc làm này của y tế Tây Nguyên đã góp phần không nhỏ vào việc khôi phục lại an ninh trật tự trong vùng. Suốt những năm làm thứ trưởng y tế giúp việc Anh, tấm gương về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và y tế của Anh là một bài học sâu sắc và ảnh hưởng lớn lao đến nhận thức, phong cách làm việc của chúng tôi.
Nói đến Đỗ Nguyên Phương còn phải nói đến tài dùng người giúp việc. Mô hình y tế Công bằng - Hiệu quả - Phát triển trong cơ chế quản lý kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa chưa từng có tiền lệ trong lịch sử y tế. Các nước có quá trình chuyển đổi như nước ta, mà một thời y tế, đã trở thành bông hoa của Chủ nghĩa Xã hội, cũng ít nhiều chịu sự chao đảo về y tế trước mặt trái của các quy luật kinh tế thị trường. Để tham mưu cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước có các quyết sách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn, Anh đã tập hợp nhiều chuyên gia trong và ngoài nước để phát huy trí tuệ của tập thể, vừa đúc rút kinh nghiệm vừa nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới. Nhiều hôm ánh đèn trong phòng làm việc của Anh vẫn sáng đến 10g – 11g đêm. Sau một chút lót dạ chiều thanh đạm, anh ngồi với chúng tôi – nhưng người cộng sự - để bàn cho thấu đáo từng chính sách, từng ý trong dự thảo nghị quyết hay chỉ thị. Làm việc với nhóm có lúc căng thẳng do sự chưa đồng thuận giữa các thành viên, Anh lại làm việc với từng người để tạo điều kiện cho người nói có thể nói hết ý nghĩ của mình mà không sợ một sự quy chụp hay thành kiến. Với tôi, một người kém Anh tám tuổi đời và chỉ là người giúp việc, nhưng Anh bao giờ cũng giành sự chăm chú khi nghe tôi trình bày ý kiến và ghi chép tỷ mỷ. Thỉnh thoảng có chỗ tôi diễn đạt không tốt làm Anh khó hiểu, Anh lại bắt tôi nói lại. Có lúc đang nghe, Anh lại ra cho tôi các câu hỏi làm tôi lúng túng, có lần phải xin khất để suy nghĩ thêm.
Sự chân tình lắng nghe và thẳng thắn trong trao đổi đã làm chúng tôi không ngần ngại đưa ra những ý kiến, mặc dầu có thể trái với ý của Anh. Cái quý giá đối với những người làm công việc giúp Anh là được Anh nghe và áp dụng những ý hay vào công việc. Với kinh nghiệm thế giới Anh rất trân trọng. Anh đã chỉ thị cho chúng tôi mời các chuyên gia hàng đầu thế giới về hoạch định chính sách y tế vào Việt Nam để học tập kinh nghiệm. Khi chúng tôi mời được Giáo sư Xiao, đã từng là cố vấn về chính sách y tế cho vợ chồng Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton sang Việt Nam, để cùng Giáo sư Goran Dahlgren, chuyên gia hàng đầu về chính sách y tế của Thuỵ Điển, trao đổi kinh nghiệm với chúng tôi về công bằng trong chăm sóc sức khoẻ. Anh đã căn dặn tôi:” Cậu phải mời các vị ấy ra Hạ Long và cậu ngồi hai ngày mà học các vị ấy. Ngồi ở Hà Nội thì cậu cứ nhấp nhổm lo công việc. Hết việc này hết đến việc khác và cậu không học được gì đâu”. Tuân lời Anh, tôi đã cùng các vị chuyên gia ra Hạ Long để nghe các vị giảng giải về y tế trong cơ chế thị trường.
Xung quanh Anh là một tập thể làm việc trách nhiệm và được làm việc một cách trách nhiệm. Chính tấm lòng đôn hậu và cách đối xử chân thành của Đỗ Nguyên Phương đã tạo ra bầu không khí đó tại các nơi Anh là Thủ trưởng.
Có lần đi đến một địa phương, do Anh có một “ ê kíp” làm việc với tính cộng đồng trách nhiệm cao, một đồng chí lãnh đạo đã khen là Anh đã có những “con bài trùng”. Dạ xin thưa, chúng tôi không dám nhận là “con bài trùng” của Anh mà chúng tôi mãi mãi chỉ là những học trò của Anh. Với cá nhân, từng người chúng tôi luôn được Anh gọi là “ cậu” và xưng là “ tớ”, vì Anh coi chúng tôi như những người em trong gia đình, và hơn thế, những “cậu học trò cưng” của Anh. Than ôi, chẳng bao giờ lại được nghe Anh gọi chúng tôi bằng “ cậu” và xưng “ tớ” với chúng tôi nữa. Với tấm lòng tri ân sâu sắc, xin vĩnh biệt Anh, một người thủ trưởng, một người Thày, một Bộ trưởng đôn hậu và tài năng.
GSTSKH Phạm Mạnh Hùng
Chuyên gia cao cấp, Ban Tuyên giáo TW
Nguyên thứ trưởng Bộ y tế
Nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo TW
Ngành y tế Việt Nam vừa mất đi một nhà lãnh đạo đức độ và tài năng - GSTS Đỗ Nguyên Phương
23:18' 5/10/2008
(TCTG) Chúng tôi những người học trò và đồng nghiệp của Anh thật sửng sốt và đau xót khi nhận được tin GSTS Đỗ Nguyên Phương, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng các khoá VIII, IX , nguyên Bộ trưởng Bộ y tế (1995-2002), nguyên Trưởng ban Khoa giáo Trung ương (2002 – 2007) đã từ trần lúc 11.05 ngày 3 tháng 10 năm 2008.
Mãi 24 giờ sau khi nhận được tin Anh mất, tôi mới trấn tĩnh và mới có thể ngồi để viết ra những dòng chữ này vừa để tưởng nhớ Anh vừa để thể hiện tấm lòng tri ân sâu sắc với một người thầy đã dìu dắt tôi trong các bước đường công tác. Hình ảnh của anh mặc áo trấn thủ (một loại áo bông không có tay và chần bằng đường may hình quả trám mà bộ đội Cụ Hồ mặc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp) với tư cách Bí thư Đoàn Thanh niên Lao Động (nay là Đoàn TNCSHCM) trường đại học Y - Dược Hà Nội, niềm nở tiếp đón chúng tôi bước chân vào năm thứ nhất, trường Đại học Y Hà Nội 46 năm về trước, hay hình ảnh Anh với mũ tai bèo và bộ quân phục quân Giải phóng lúc chia tay chúng tôi năm 1972, để Anh vào chiến truờng B2, vẫn giữ mãi trong tôi suốt những năm tháng qua. Ở Anh, suốt cuộc đời lúc nào cũng toát lên hình ảnh một con người nhiệt tình, trách nhiệm, đôn hậu, là niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho đồng nghiệp và học trò.
Bài học lớn nhất mà chúng tôi học được từ Anh, đó là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa chính trị và chuyên môn (y học và y tế): trong chuyên môn có chính trị và trong chính trị có chuyên môn. Khi tôi còn là cán bộ giảng dạy Đại học Y Hà Nội và tham gia thường vụ Đoàn Thanh niên nhà trường, còn Anh là Bí thư Đoàn trường, nhiều lần anh chỉ dẫn tôi cách tổ chức hội nghị bàn về phong cách học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ trẻ và sinh viên trong nhà trường. Vào thời đó, chính trị là thống soái; chính trị đi trước, chuyên môn theo sau, chính trị và chuyên môn dễ tách rời, lúc coi trọng cái này nhưng coi nhẹ cái kia. Khi bàn việc học tập của sinh viên, có xu hướng chỉ coi trọng xây dựng động cơ học tập, còn phương pháp học thường bị coi nhẹ. Vì vậy các bài thuyết trình chỉ dừng lại ở cách nói chung chung học tập vì lý tưởng cách mạng, vì tương lai, vì nhân dân v.v.. mà ít nói phải làm thế nào để học giỏi. Anh đã dặn tôi phải giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên, nhưng nếu thật sự vì lý tưởng cách mạng thì sinh viên phải cần và phải biết học giỏi. Thế là Đoàn Thanh niên nhà trường đã tổ chức nhiều hội thảo để giới thiệu kinh nghiệm hay của những sinh viên giỏi trong các khoá học. Không ngờ nhiều sáng kiến hay được chia sẻ và một phương pháp được đề cao là sinh viên phải chủ động và tự học là chính, thay cho lối học tổ nhóm truyền khẩu, thụ động. Rồi có lúc tranh luận diễn ra mạnh mẽ và có người quy kết Anh và tôi mang nặng “tư tưởng chuyên môn thuần tuý”. Nhưng Anh đâu có phải như vậy. Khi Anh đã ở cuơng vị Bộ trưởng Bộ Y tế, và tôi vừa được đề bạt là Thứ trưởng giúp việc cho Anh, Anh gọi tôi vào phòng làm việc và nói với tôi rằng : "Cậu là một cán bộ khoa học trẻ ( xin nói thêm năm 1996 tôi là cán bộ còn trẻ trong ngành Y được phong học hàm giáo sư, và lại được vinh dự được phong cùng một đợt với Anh, Anh là giáo sư triết học, còn tôi là giáo sư Y học), nhưng làm quản lý không phải chỉ cần có chuyên môn. Cậu phải cắp sách đến học nghiêm chỉnh một khoá tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và tớ giao cho cậu nghiên cứu chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về sức khoẻ và công tác chăm sóc sức khoẻ. Đây sẽ là cái gậy để cậu vươn lên trong công việc quản lý y tế”. Tuân theo lời Anh, tôi đã đến Học viện để theo học lớp tại chức 4 năm và căm cụi nghiên cứu chuyên đề trên. Bây giờ ngẫm lại lời anh dặn mới thấy hết ý sâu xa trong kết hợp giữa chính trị và chuyên môn.
Cũng chính với sự kết hợp nhuần nhuyễn đó mà trong tư tưởng của Anh, định hướng “Công bằng” luôn luôn là chủ đề xuyên suốt trong quản lý y tế của nước ta ở thời Đổi mới với cách quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Bước vào thời kỳ mở cửa 1986, chúng ta nghĩ một cách đơn giản, khi áp dụng cơ chế thị trường vào quản lý kinh tế thì đương nhiên sẽ có một mô hình y tế phù hợp và bắt nhịp với cơ chế đó. Đâu có biết ngay trong cơ chế thị trường, nền y tế cũng có nhiều kiểu mô hình: có loại phù hợp với thị trường tự do ( lấy lợi nhuận là mục tiêu của nền y tế) và có loại phù hợp với thị trường xã hội ( lấy nhân đạo và công bằng là mục tiêu chính của y tế). Do không có định hướng ngay từ đầu, nên trong những năm cuối của thập kỷ 80 và hai năm đầu của thập kỷ 90, nền y tế của ta đã rơi vào sự khủng hoảng nghiêm trọng, và y tế cơ sở đã đứng bên bờ vực thẳm của sự tan rã.
Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đề ra những quan điểm cơ bản của y tế trong thời kỳ Đổi mới. Từ đó chúng ta mới có phương hướng rõ ràng về việc xây dựng một nền y tế trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Song mặt trái của cơ chế thị trường mang lại sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn ngày một sâu sắc. Năm 1995 khi Anh được Trung ương điều chuyển từ cương vị Phó Giám đốc thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh sang làm Bộ trưởng Bộ Y tế, ngành y tế đang đứng trước những thách thức lớn: nhân đạo hay thương mại hoá?, y đức hay lời lãi.??...Rồi một lần, Anh đến chúc Tết Bác Phạm Văn Đồng, Bác cầm tay Anh nói to từng chữ : “ Các anh không được biến bệnh viện thành cái chợ và trong cái chợ ấy người thầy thuốc là con buôn”. Rời Phủ Chủ tịch ra về, Anh đến thẳng nhà tôi để chúc tết mẹ tôi và gia đình. Với nét mặt vẫn còn vẻ suy tư, Anh nhắc lại với tôi lời dạy của Bác Phạm Văn Đồng. Anh chia sẻ với tôi : “Sâu sắc quá cậu ạ, chí lý quá cậu ạ và lớn lao quá cậu ạ . Tớ với cậu phải làm gì đây”. Mười hai điều y đức của Anh ra đời trong hoàn cảnh đó. Khái niệm “Công bằng" trong chăm sóc sức khoẻ được Anh làm sâu sắc thêm trong hoàn cảnh đó.
Sự nhuần nhuyễn giữa chính trị và chuyên môn trong Anh không chỉ trên bình diện lý luận mà còn trong phong cách làm việc. Một lần được tháp tùng Anh thăm một xã của huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (lúc đó còn gọi là Hậu Giang), thấy xã có một chị bác sỹ công tác nên việc khám chữa bệnh của nhân dân được cải thiện rất nhiều, nhân dân không phải đi xa nhất là mùa nước nổi, trạm y tế quy củ và sạch đẹp. Anh quay lai hỏi tôi ( lúc ấy tôi vừa làm thứ trưởng vừa làm vụ trưởng TCCB): “Sao ta không đưa việc này thành phong trào hở cậu”. Lặn lội vào thực tiễn, rồi từ thực tiễn rút ra bài học và nâng thành chính sách (cái mà ngày nay Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo làm chính sách phải dựa trên bằng chứng) - một tấm gương lớn ở Anh. Sau này bắt chước Anh, có lần tôi thăm một trường tại huyện Tân Biên, Tây Ninh và chợt thấy khẩu hiệu treo trên cổng nhà trường, đại ý thầy trò nhà trường quyết phấn đấu thành trường chuẩn quốc gia. Tôi chợt nghĩ tại sao ngành mình không xây dựng xã đạt chuẩn y tế quốc gia. Tôi về báo cáo Anh, Anh cuời một cách rất tình cảm và khen tôi:” Cậu đã lên tay rồi đấy”. Ý tưởng và chủ trương xã đạt chuẩn y tế quốc gia cũng bắt đầu từ thực tiễn.
Biết tôi say mê với chuyên môn ghép thận, nhưng có lần Anh tâm sự và dặn tôi: "Ghép thận cứu người bệnh cũng tốt và cũng cần, nhưng cậu hãy đưa nhiều bác sỹ giỏi của ngành mình xuống các tỉnh, huyện, xã khó khăn để cầm tay chỉ việc cho tuyến dưới. Việc này sẽ cứu được nhiều người hơn”. Anh giao cho tôi trực tiếp chỉ đạo phong trào này và trực tiếp dẫn các bác sỹ của Chợ Rẫy về với Kiên Giang, Bạch Mai về với Tuyên Quang, Thành phố Hồ Chí Minh về với Bình Phước, Việt Đức về với Cao Bằng, Trung ương Huế về với KonTum v.v.. Sự nhuần nhuyễn giữa chính trị và chuyên môn trong Anh lại càng được thể hiện khi gay cấn. Đầu năm 2001, khi xẩy ra vụ bạo loạn chính trị tại các tỉnh Tây Nguyên, Anh đã chỉ thị cho y tế các tỉnh Tây Nguyên tổ chức thầy thuốc mang cơm, mang nước, mang thuốc và mang cả chính sách của Đảng đến với dân”. Việc làm này của y tế Tây Nguyên đã góp phần không nhỏ vào việc khôi phục lại an ninh trật tự trong vùng. Suốt những năm làm thứ trưởng y tế giúp việc Anh, tấm gương về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và y tế của Anh là một bài học sâu sắc và ảnh hưởng lớn lao đến nhận thức, phong cách làm việc của chúng tôi.
Nói đến Đỗ Nguyên Phương còn phải nói đến tài dùng người giúp việc. Mô hình y tế Công bằng - Hiệu quả - Phát triển trong cơ chế quản lý kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa chưa từng có tiền lệ trong lịch sử y tế. Các nước có quá trình chuyển đổi như nước ta, mà một thời y tế, đã trở thành bông hoa của Chủ nghĩa Xã hội, cũng ít nhiều chịu sự chao đảo về y tế trước mặt trái của các quy luật kinh tế thị trường. Để tham mưu cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước có các quyết sách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn, Anh đã tập hợp nhiều chuyên gia trong và ngoài nước để phát huy trí tuệ của tập thể, vừa đúc rút kinh nghiệm vừa nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới. Nhiều hôm ánh đèn trong phòng làm việc của Anh vẫn sáng đến 10g – 11g đêm. Sau một chút lót dạ chiều thanh đạm, anh ngồi với chúng tôi – nhưng người cộng sự - để bàn cho thấu đáo từng chính sách, từng ý trong dự thảo nghị quyết hay chỉ thị. Làm việc với nhóm có lúc căng thẳng do sự chưa đồng thuận giữa các thành viên, Anh lại làm việc với từng người để tạo điều kiện cho người nói có thể nói hết ý nghĩ của mình mà không sợ một sự quy chụp hay thành kiến. Với tôi, một người kém Anh tám tuổi đời và chỉ là người giúp việc, nhưng Anh bao giờ cũng giành sự chăm chú khi nghe tôi trình bày ý kiến và ghi chép tỷ mỷ. Thỉnh thoảng có chỗ tôi diễn đạt không tốt làm Anh khó hiểu, Anh lại bắt tôi nói lại. Có lúc đang nghe, Anh lại ra cho tôi các câu hỏi làm tôi lúng túng, có lần phải xin khất để suy nghĩ thêm.
Sự chân tình lắng nghe và thẳng thắn trong trao đổi đã làm chúng tôi không ngần ngại đưa ra những ý kiến, mặc dầu có thể trái với ý của Anh. Cái quý giá đối với những người làm công việc giúp Anh là được Anh nghe và áp dụng những ý hay vào công việc. Với kinh nghiệm thế giới Anh rất trân trọng. Anh đã chỉ thị cho chúng tôi mời các chuyên gia hàng đầu thế giới về hoạch định chính sách y tế vào Việt Nam để học tập kinh nghiệm. Khi chúng tôi mời được Giáo sư Xiao, đã từng là cố vấn về chính sách y tế cho vợ chồng Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton sang Việt Nam, để cùng Giáo sư Goran Dahlgren, chuyên gia hàng đầu về chính sách y tế của Thuỵ Điển, trao đổi kinh nghiệm với chúng tôi về công bằng trong chăm sóc sức khoẻ. Anh đã căn dặn tôi:” Cậu phải mời các vị ấy ra Hạ Long và cậu ngồi hai ngày mà học các vị ấy. Ngồi ở Hà Nội thì cậu cứ nhấp nhổm lo công việc. Hết việc này hết đến việc khác và cậu không học được gì đâu”. Tuân lời Anh, tôi đã cùng các vị chuyên gia ra Hạ Long để nghe các vị giảng giải về y tế trong cơ chế thị trường.
Xung quanh Anh là một tập thể làm việc trách nhiệm và được làm việc một cách trách nhiệm. Chính tấm lòng đôn hậu và cách đối xử chân thành của Đỗ Nguyên Phương đã tạo ra bầu không khí đó tại các nơi Anh là Thủ trưởng.
Có lần đi đến một địa phương, do Anh có một “ ê kíp” làm việc với tính cộng đồng trách nhiệm cao, một đồng chí lãnh đạo đã khen là Anh đã có những “con bài trùng”. Dạ xin thưa, chúng tôi không dám nhận là “con bài trùng” của Anh mà chúng tôi mãi mãi chỉ là những học trò của Anh. Với cá nhân, từng người chúng tôi luôn được Anh gọi là “ cậu” và xưng là “ tớ”, vì Anh coi chúng tôi như những người em trong gia đình, và hơn thế, những “cậu học trò cưng” của Anh. Than ôi, chẳng bao giờ lại được nghe Anh gọi chúng tôi bằng “ cậu” và xưng “ tớ” với chúng tôi nữa. Với tấm lòng tri ân sâu sắc, xin vĩnh biệt Anh, một người thủ trưởng, một người Thày, một Bộ trưởng đôn hậu và tài năng.
GSTSKH Phạm Mạnh Hùng
Chuyên gia cao cấp, Ban Tuyên giáo TW
Nguyên thứ trưởng Bộ y tế
Nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo TW
Âm mưu "tự diễn biến" từ lĩnh vực báo chí
Báo Quân đội Nhân dân (QĐND)(kể cả bản in và bản điện tử)lâu nay có mục: "Làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình". Đây là một loại mục mà hầu như báo chí "lề phải" nào của ta cũng thường hay có, đại loại như "Diễn đàn đấu tranh tư tưởng", "Đấu tranh chống các quan điểm sai trái", hay phổ biến hơn cả là "Xã luận". Tuy nhiên,khi đọc các bài trong mục "Làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình". của báo QĐND những năm gần đây tôi lại thấy các bài viết trong mục này thường thiếu thuyết phục, nặng về lý sự cùn, nói lấy được (dân gian gọi là lý của người Mèo), thậm chí với khẩu khí răn đe theo kiểu báo chí thời "Cải cách ruộng đất", hay thời kỳ chống phong trào "Nhân văn giai phẩm" thập niên những năm 50-60 của thế kỷ 20 trước đây. Cách làm báo kiểu này chỉ phù hợp với một xã hội khép kín bị hạn chế thông tin, dân trí thấp, hoặc thời kỳ chiến tranh lạnh... Tuy nhiên, cách tiếp cận này trong bối cảnh hiện nay ở nước ta đã trở nên lạc hậu, thậm chí phản tác dụng. Bằng chứng là phần lớn các bài viết trong mục "Làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình" của QĐND khi đăng lên đều bị phản ứng của dư luận, nhất là cộng đồng mạng. Nói như thế đừng vội quy cho chúng mình là phản động hay "các thế lực thù địch" nhé. Bởi Internet là mạng toàn cầu, khi đăng tải lên báo mạng nó đập vào mắt độc giả, làm cho độc giả có thể có phản ứng ngay (dù tốt hay xấu). Nhưng theo cảm nhận của mình, những bài báo của QĐND đều thiếu tính thuyết phục. Ngay như bài báo của tác giả Thanh Tuyền (Vâng bên cạnh các tên tuổi như Nguyễn Văn Minh, Quý Thanh bây gìơ lại có thêm nhà báo Thanh Tuyền)mà mình giới thiệu dưới đây, bạn đọc chắc cùng có ý nghĩ như mình: viết như vậy không biết có "Làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch hay không hay các vị đang thể hiện sự "tự diễn biến" đấy.
MỘT SỰ NGỘ NHẬN TAI HẠI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN
Thanh Tuyền.
QĐND - Chiều ngày 2-8-2011, sau 6 giờ làm việc, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã bác toàn bộ đơn chống án của Cù Huy Hà Vũ, đồng thời tuyên phạt Vũ 7 năm tù và 3 năm quản chế tại địa phương. Thật là đáng tiếc cho một trí thức đã để mất đi 10 năm trong cuộc đời ngắn ngủi của một con người vì một sai lầm không đáng có bởi một sự ngộ nhận về quyền tự do ngôn luận!
Trên phạm vi lịch sử nhân loại và ở cấp độ đặc trưng cơ bản, phân biệt giữa con người với phần còn lại của thế giới, nhu cầu về tự do được xem là một thuộc tính của loài người, là một quyền tự nhiên (natural rights) của con người. Không có tự do thì không có khám phá, không có phát minh sáng chế, không có phát triển... Nhưng ở bình diện cá nhân trong cộng đồng thì nhu cầu về tự do không thể không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, trước hết là ở sự ổn định xã hội – mà thiếu nó thì mọi phát minh, sáng tạo đều trở nên vô nghĩa. Cuộc sống còn chỉ ra rằng, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác, trước hết đó là nhân phẩm, danh dự của họ.
Sự kiện khủng hoảng xã hội dẫn đến bạo động ở Đan Mạch bởi họa sĩ Kút (Kurt Westergaard) vẽ tranh châm biếm nhà Tiên tri Mohammed của Hồi giáo và vụ việc Mục sư Giôn (Tery Jones) ở bang Phlo-ri-đa (Florida), Mỹ có ý định đốt kinh Cô-ran ở Mỹ là những ví dụ về hậu quả tai hại đối với xã hội khi người ta (và cả pháp luật quốc gia) đã quan niệm không đúng quyền tự do của cá nhân. Tất nhiên những người có hành vi xúc phạm đạo Hồi ở Đan Mạch và ở Mỹ nói rằng họ có cơ sở pháp lý để làm việc đó. Đó là “quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ”. Tất nhiên pháp luật của một quốc gia quy định như thế nào là quyền của cơ quan lập pháp nước đó, không ai có quyền phê phán.
Ở Việt Nam từ sau khi cách mạng thành công, quyền tự do ngôn luận đã được quy định nhất quán trong các Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước CHXHCN Việt Nam (các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992). Điều 69 - Hiến pháp 1992 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…”. Để bảo đảm quyền này nhiều bộ luật và luật đã có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cá nhân, trong đó có Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Việt Nam đã gia nhập năm 1982) cũng đã quy định về quyền này tại Điều 19 “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận…”.
Cù Huy Hà Vũ và nhiều luật sư bào chữa cho ông ta nói rằng, Cù Huy Hà Vũ không phạm luật vì ông ta đã sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình - mà quyền này đã được pháp luật (quốc gia và quốc tế ) bảo vệ. Phải chăng đây là một lập luận đúng đắn?
Vấn đề là ở chỗ, trong luật quốc gia và luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận (và nhiều quyền khác) không phải là quyền “tuyệt đối” mà là những quyền có giới hạn, nói cách khác là những quyền bị hạn chế. Trong Công ước quốc tế về quyền con người, tại khoản 3, Điều 19 quy định “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng).
Như vậy là việc Cù Huy Hà Vũ dựa vào Luật quốc tế về Quyền con người để biện hộ cho mình là sai, vì ông ta đã “quên” hay "cố tình quên" khoản 3, Điều 19.
Liên quan đến tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận của Cù Huy Hà Vũ, Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999 quy định: “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến 12 năm:
a. Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;…
c. Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”.
Việc Cù Huy Hà Vũ và luật sư cho rằng không có bằng chứng về hậu quả của hành vị phạm tội của Vũ là không có cơ sở pháp lý. Tội “tuyên truyền” vốn là tội phạm mang tính chất “bất bạo động” theo cách nói của mấy nhà luật học “lề trái”. Bằng chứng về hậu quả của tội phạm này ư? - Đó chính là bạo loạn, là nội chiến, là sự sụp đổ chính quyền hiện hữu, thậm chí là sự can thiệp, tấn công bằng quân sự của nước ngoài như ở Trung Đông, Bắc Phi… Như có người đã nói “chẳng lẽ chờ đến khi có “cách mạng hoa sen” mới kết tội Cù Huy Hà Vũ hay sao?
Trên thế giới không có một quốc gia nào quy định chứng cứ về hậu quả xã hội của loại tội phạm này. Còn nhớ, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Như vậy là chỉ với chứng cứ Cù Huy Hà Vũ “Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu… có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã đủ cấu thành tội phạm.
Với các chứng cứ Cù Huy Hà Vũ đã có một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn và nhiều tài liệu lưu giữ tại máy tính xách tay và USB có nội dung đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp 1992; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, phỉ báng Quốc hội, Chính phủ, Cơ quan tư pháp – xem những tổ chức này “chỉ là tay sai của Đảng”; pháp luật quốc gia chỉ là một “quái trạng pháp luật”… bản án dành cho Cù Huy Hà Vũ là đích đáng. Đây còn là một bài học đắt giá cho những ai ngộ nhận pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, ngộ nhận về quyền tự do nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng và cả sự ngộ nhận về mối quan hệ quốc tế nào đó có thể đóng vai trò bảo kê cho những hành vi vi phạm pháp luật của mình.
( QĐND - Thứ Tư, 10/08/2011, 23:2 (GMT+7))
Nguồn: Blog Phạm Viết Đào
MỘT SỰ NGỘ NHẬN TAI HẠI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN
Thanh Tuyền.
QĐND - Chiều ngày 2-8-2011, sau 6 giờ làm việc, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã bác toàn bộ đơn chống án của Cù Huy Hà Vũ, đồng thời tuyên phạt Vũ 7 năm tù và 3 năm quản chế tại địa phương. Thật là đáng tiếc cho một trí thức đã để mất đi 10 năm trong cuộc đời ngắn ngủi của một con người vì một sai lầm không đáng có bởi một sự ngộ nhận về quyền tự do ngôn luận!
Trên phạm vi lịch sử nhân loại và ở cấp độ đặc trưng cơ bản, phân biệt giữa con người với phần còn lại của thế giới, nhu cầu về tự do được xem là một thuộc tính của loài người, là một quyền tự nhiên (natural rights) của con người. Không có tự do thì không có khám phá, không có phát minh sáng chế, không có phát triển... Nhưng ở bình diện cá nhân trong cộng đồng thì nhu cầu về tự do không thể không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, trước hết là ở sự ổn định xã hội – mà thiếu nó thì mọi phát minh, sáng tạo đều trở nên vô nghĩa. Cuộc sống còn chỉ ra rằng, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác, trước hết đó là nhân phẩm, danh dự của họ.
Sự kiện khủng hoảng xã hội dẫn đến bạo động ở Đan Mạch bởi họa sĩ Kút (Kurt Westergaard) vẽ tranh châm biếm nhà Tiên tri Mohammed của Hồi giáo và vụ việc Mục sư Giôn (Tery Jones) ở bang Phlo-ri-đa (Florida), Mỹ có ý định đốt kinh Cô-ran ở Mỹ là những ví dụ về hậu quả tai hại đối với xã hội khi người ta (và cả pháp luật quốc gia) đã quan niệm không đúng quyền tự do của cá nhân. Tất nhiên những người có hành vi xúc phạm đạo Hồi ở Đan Mạch và ở Mỹ nói rằng họ có cơ sở pháp lý để làm việc đó. Đó là “quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ”. Tất nhiên pháp luật của một quốc gia quy định như thế nào là quyền của cơ quan lập pháp nước đó, không ai có quyền phê phán.
Ở Việt Nam từ sau khi cách mạng thành công, quyền tự do ngôn luận đã được quy định nhất quán trong các Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước CHXHCN Việt Nam (các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992). Điều 69 - Hiến pháp 1992 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…”. Để bảo đảm quyền này nhiều bộ luật và luật đã có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cá nhân, trong đó có Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Việt Nam đã gia nhập năm 1982) cũng đã quy định về quyền này tại Điều 19 “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận…”.
Cù Huy Hà Vũ và nhiều luật sư bào chữa cho ông ta nói rằng, Cù Huy Hà Vũ không phạm luật vì ông ta đã sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình - mà quyền này đã được pháp luật (quốc gia và quốc tế ) bảo vệ. Phải chăng đây là một lập luận đúng đắn?
Vấn đề là ở chỗ, trong luật quốc gia và luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận (và nhiều quyền khác) không phải là quyền “tuyệt đối” mà là những quyền có giới hạn, nói cách khác là những quyền bị hạn chế. Trong Công ước quốc tế về quyền con người, tại khoản 3, Điều 19 quy định “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng).
Như vậy là việc Cù Huy Hà Vũ dựa vào Luật quốc tế về Quyền con người để biện hộ cho mình là sai, vì ông ta đã “quên” hay "cố tình quên" khoản 3, Điều 19.
Liên quan đến tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận của Cù Huy Hà Vũ, Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999 quy định: “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến 12 năm:
a. Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;…
c. Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”.
Việc Cù Huy Hà Vũ và luật sư cho rằng không có bằng chứng về hậu quả của hành vị phạm tội của Vũ là không có cơ sở pháp lý. Tội “tuyên truyền” vốn là tội phạm mang tính chất “bất bạo động” theo cách nói của mấy nhà luật học “lề trái”. Bằng chứng về hậu quả của tội phạm này ư? - Đó chính là bạo loạn, là nội chiến, là sự sụp đổ chính quyền hiện hữu, thậm chí là sự can thiệp, tấn công bằng quân sự của nước ngoài như ở Trung Đông, Bắc Phi… Như có người đã nói “chẳng lẽ chờ đến khi có “cách mạng hoa sen” mới kết tội Cù Huy Hà Vũ hay sao?
Trên thế giới không có một quốc gia nào quy định chứng cứ về hậu quả xã hội của loại tội phạm này. Còn nhớ, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Như vậy là chỉ với chứng cứ Cù Huy Hà Vũ “Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu… có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã đủ cấu thành tội phạm.
Với các chứng cứ Cù Huy Hà Vũ đã có một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn và nhiều tài liệu lưu giữ tại máy tính xách tay và USB có nội dung đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp 1992; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, phỉ báng Quốc hội, Chính phủ, Cơ quan tư pháp – xem những tổ chức này “chỉ là tay sai của Đảng”; pháp luật quốc gia chỉ là một “quái trạng pháp luật”… bản án dành cho Cù Huy Hà Vũ là đích đáng. Đây còn là một bài học đắt giá cho những ai ngộ nhận pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, ngộ nhận về quyền tự do nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng và cả sự ngộ nhận về mối quan hệ quốc tế nào đó có thể đóng vai trò bảo kê cho những hành vi vi phạm pháp luật của mình.
( QĐND - Thứ Tư, 10/08/2011, 23:2 (GMT+7))
Nguồn: Blog Phạm Viết Đào
Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011
Đại biểu Quốc hội- đại biểu cơ quan quyền lực cao nhất mà thế này ư?
Chất lượng Quốc hội?
Nhìn vào những khuôn mặt đại gia luôn được VTV zoom cận cảnh và lôi ra phỏng vấn, xem “nụ cười ấn tượng” của đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến, đọc lại bài phát biểu “hoành tráng” của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền để biết chất lượng Quốc hội kỳ này.
Bài phát biểu của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền tại phiên thảo luận chiều 5-8:
Kính thưa Chủ tọa kỳ họp.
Kính thưa Quốc hội.
Sau khi nghe báo cáo tình hình kinh tế, đánh giá tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm và những giải pháp của 6 tháng cuối năm, chúng tôi cơ bản thống nhất. Có thể nói những tháng cuối năm năm 2010 và đầu năm 2011 tình hình kinh tế diễn biến không thuận lợi. Kinh thế thế giới gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao, hầu hết các nước trên thế giới và các nước phát triển đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát tăng cao. Ở trong nước tình hình lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái những tháng đầu năm biến động mạnh và diễn biến phức tạp. Có thời điểm lãi suất tiền gửi 16-18%, có lúc cho vay trên 20%. Trước tình hình này Chính phủ đã có Nghị quyết 11, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 02 và Quốc hội cũng đã có Nghị quyết 59 về ưu tiên hàng đầu trong năm 2011 là kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Qua 4 tháng triển khai thực hiện chúng tôi thấy:
Thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội, sự điều hành đồng bộ, quyết liệt của Chính phủ tình hình kinh tế – xã hội những tháng gần đây đã có những chuyển biến tích cực, thu ngân sách đạt 55,1% và tăng 22,8% so với năm 2010, góp phần quan trọng vào việc thực hiện giảm bội chi ngân sách dưới 5% vào cuối năm 2011. Các chương trình đảm bảo an sinh xã hội được triển khai tích cực như hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, cho vay xuất khẩu lao động, giải quyết trợ cấp thất nghiệp v.v… Đặc biệt chúng ta đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Trước tình hình biển Đông có diễn biến phức tạp Chính phủ đã chủ động đấu tranh ngoại giao, được sự đồng tình ủng hộ của các nước trong khu vực và quốc tế thông qua các cuộc tiếp xúc đàm phán song phương v.v… Có thể nói kỳ họp nào Chính phủ cũng báo cáo một bản báo cáo hết sức hoành tráng và có sức thuyết phục. Tuy nhiên, cử tri cả nước cũng còn nhiều băn khoăn, lo lắng:
Thứ nhất, thu ngân sách của chúng ta đạt cao nhưng chất lượng cuộc sống của người dân lại đi xuống. Bởi vì không phải do sản xuất phát triển mà chúng ta thu được ngân sách cao, mà do lạm phát tăng cao nên chúng ta thu được ngân sách cao cho nên chất lượng cuộc sống của người dân đi xuống. Cho nên nhân dân rất băn khoăn và lo lắng việc này. Tôi đề nghị Chính phủ cần phải sớm nghiên cứu vấn đề này.
Thứ hai, đồng tiền của chúng ta mất giá ghê gớm. Ngày xưa chúng ta phát hành tiền thì tính bằng tiền xu, nhưng bây giờ đi chợ tính bằng tiền nghìn, tức là mất giá đến 1.000 lần, lòng tin của nhân dân đối với đồng tiền bị giảm sút ghê gớm. Lãi suất ngân hàng quá cao cho nên doanh nghiệp và người dân không tiếp cận, nếu có tiếp cận được thì cũng không đủ trả lãi cho ngân hàng. Tôi đề nghị vấn đề này cần nghiên cứu. Đợt lạm phát lần trước chúng tôi đi giám sát thì các ngân hàng cho rằng chúng tôi đã cho vay dư nợ tín dụng hơn 30% mà ngân hàng quyết định dư nợ tín dụng không quá 20%, chủ yếu là thu hồi nợ. Lần này lạm phát tăng cao chúng ta cũng thắt chặt chính sách tiền tệ, dư nợ tín dụng quy định chặt hơn tức là dưới 20% thì càng khó khăn hơn nữa. Các doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn. Đây là vấn đề mọi người hết sức lo lắng.
Thứ ba, tình trạng tham nhũng, tai nạn giao thông, tình hình biển Đông chưa có nhiều hướng làm. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của chúng ta còn rất yếu cho nên vấn đề này cần xem lại. Tai nạn giao thông không được kiềm chế mỗi năm chết khoảng 12 – 15 nghìn, bị thương từ 25 đến 30 nghìn người. Tình hình biển Đông diễn biến phức tạp. Làm sao để nhiệm kỳ này cố gắng lấy lại quần đảo Hoàng Sa (đoạn này khi đưa vào biên bản lưu tại trang tin điện tử Quốc hội đã bị cắt- TDN). Tôi thấy những vấn đề tồn tại nêu trên trong Chính phủ mới cần phải có nghiên cứu để khắc phục làm sao điều hành trong Chính phủ mới tiến bộ hơn.
Về 8 nhóm giải pháp chúng tôi cơ bản đồng tình như Chính phủ nêu. Trong này có 2 báo cáo, một báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư nêu 10 giải pháp, nhưng báo cáo của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thì có 8 giải pháp. Chúng tôi bổ sung thêm một giải pháp thứ 9 tức là kích cầu bởi vì nếu chúng ta thắt chặt chính sách tiền tệ thì chắc chắn đến cuối năm kinh tế sẽ suy giảm, đã suy giảm thì đương nhiên phải có gói kích cầu, nếu không có thì từ nay đến cuối năm các doanh nghiệp, người nông dân sản xuất gặp nhiều khó khăn. Tôi đề nghị bổ sung thêm một gói kích cầu, tất nhiên gói kích cầu lần này tôi đề nghị phải khoanh nợ, giãn nợ cho nông dân và doanh nghiệp. Chúng ta đầu tư cho vay mới để tập trung cho sản xuất, không như lần trước chúng ta đầu tư kích cầu chúng ta lại dùng đồng tiền đó đáo hạn ngân hàng thì không mang lại lợi ích thiết thực. Cho nên kích cầu lần này phải kích cầu trực tiếp cho người nông dân, doanh nghiệp và khoanh nợ, giãn nợ cho doanh nghiệp.
Đối với Chính phủ mới người dân rất tin tưởng và kỳ vọng sẽ làm chuyển biến được tình hình kinh tế – xã hội, trong giai đoạn phát triển mới cử tri cũng đòi hỏi thành viên Chính phủ phải có trái tim nóng bỏng, đầy nhiệt huyết nhưng cái đầu phải lạnh và phải có bàn tay sạch thì mới điều hành đất nước được. Nếu trái tim nóng bỏng nhưng cái đầu cũng nóng, quyết định sáng đúng chiều sai đến mai lại đúng thì rất gay cho nên phải có cái đầu lạnh toát để nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện và phải có bàn tay sạch.
Thứ hai là phải tiêu diệt được tham nhũng và kìm chế được tai nạn giao thông, quần đảo Trường Sa bây giờ do Trung Quốc chiếm cho nên chúng ta cũng phải kiên quyết chỗ này. Nhân dân bảo chống là chưa đủ mà phải tiêu diệt được tham nhũng, kìm chế tai nạn giao thông và duy trì được tốc độ phát triển kinh tế ổn định. Đó là những vấn đề nhân dân gửi gắm, các Bộ trưởng phát biểu rất hay trước báo chí nhưng cử tri có gửi gắm là nếu như không thực hiện đúng lời hứa của mình thì phải thực hiện văn hóa từ chức, theo Điều 87 của Luật tổ chức Quốc hội hoặc Điều 88, bỏ phiếu bất tín nhiệm các Bộ trưởng nếu như không hoàn thành nhiệm vụ hứa trước cử tri.
Đối với cử tri Lâm Đồng nhân dịp kỳ họp này có kiến nghị với Đảng, Chính phủ và Quốc hội 6 vấn đề sau:
Thứ nhất, phải đầu tư xây dựng ngay con đường vận chuyển bô xit, nhà máy bô xit sắp xong rồi tốc độ vận chuyển rất lớn, nếu đi chung con đường đó thì không đảm bảo cho nên đề nghị cho khởi công xây dựng ngay đường vận chuyển bô xit.
Thứ hai, đề nghị trước mắt xây dựng con đường cao tốc Đà Lạt – Dầu Giây, từ nhiệm kỳ trước chúng tôi đã kiến nghị rồi nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Thứ ba là cho nâng cấp ngay quốc lộ 20 và quốc lộ 27 để đảm bảo giao thông.
Thứ tư là đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường Đông Trường Sơn từ Đà Lạt lên Đà Nẵng, việc này rất chậm đã 4 năm từ nhiệm kỳ trước đến nay mà mới làm một đoạn cũng chưa xong.
Thứ năm, theo nghị quyết của Chính phủ và nghị quyết của Đảng là xây dựng phát triển vùng Tây Nguyên, làm 3 hồ thủy lợi cho đồng bào dân tộc nhưng đã 10 năm mới làm được một cái, còn hồ Đạ Lây, Đạ Sị ở Cát Tiên và Đạ Tẻh là chưa làm.
Thứ sáu, chúng tôi đề nghị nâng cấp thành phố Đà Lạt trực thuộc Trung ương và tỉnh Lâm Đồng về Bảo Lộc, trước đây là hai tỉnh. Đây là những kiến nghị của cử tri Lâm Đồng, chúng tôi sẽ theo dõi và theo đuổi cái này đến cùng. Xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.
(Nguồn: Trang tin điện tử Quốc hội)
Nguồn dẫn lại: Blog Trương Duy Nhất
CÒN ĐÂY LÀ CHÂN DUNG NỮ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐẶNG THỊ HOÀNG YẾN (ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH TIỀN GIANG)
ĐẸP MẶT MỘT VỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA NÀY: BÀ ĐẶNG THỊ HOÀNG YẾN
Chân dung bà Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo
Sau khi Báo Người cao tuổi đăng bài "Vấn đề bạn đọc quan tâm: "Tri ân" các cụ hay mua chuộc cử tri" (số 941) và bài "Sự thật về ĐBQH Đặng Thị Hoàng Yến" (số 942), trưa ngày 6-8-2011, bà Đặng Thị Hoàng Yến chủ động gọi điện cho Tổng biên tập Báo Người cao tuổi thông báo rằng các bài viết sai sự thật, phản ánh theo nội dung báo chí nước ngoài về bà và cho biết sẽ có luật sư đến gặp để làm rõ.
Khi Tổng biên tập Báo Người cao tuổi hỏi bà bài viết sai những gì? Bà Yến lí giải ba chi tiết. Một là, nêu quê bà ở Hải Phòng là không đúng. Bà khai quê quán ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh là nơi bà được sinh ra (sinh ở đâu khai quê ở đó). Hai là, trong đời bà chưa bao giờ biết đến vụ án nào đó như báo nêu bà từng bị khởi tố. Ba là, bà xuất cảnh đi Mỹ là được cấp VISA cùng giấy phép đầu tư nước ngoài, tại sao lại viết là trốn?...
Bà Hoàng Yến sinh ra ở đâu?
Trong tiểu sử tóm tắt của bà Đặng Thị Hoàng Yến (khai theo mẫu số 3/BCĐBQH) ngày 12-3-2011 được niêm yết ở các điểm bầu cử tại 4 huyện Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức và Thủ Thừa ghi quê quán: Phường 10, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Căn 31, đường 1A, Tổ ANND 01, khu E, City Tân Đức, ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, Long An. Ngoài các chức danh báo đã nêu, bà Hoàng Yến còn là Chủ tịch diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Hoa Kỳ; thành viên Hội đồng tư vấn các nước ASEAN - ASEAN BAC (...). Xin nói thêm, bà Yến là Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo từ năm 2007 (sau khi ở Mỹ về nước) nhưng trong tiểu sử ứng cử ĐBQH bà khai là chức vụ đó đảm nhiệm từ 1-1994 đến nay.
Trong khi Tổng biên tập Báo NCT chỉ đạo phóng viên tiếp tục xác minh, trả lời chính xác quê bà Yến thì hồi 8 giờ ngày 7-8-2011 (Chủ nhật), trong chương trình Khách mời của VTV3 do nhà báo Lại Văn Sâm dẫn chương trình, ngồi đối thoại với ông Đặng Thành Tâm (em ruột bà Đặng Thị Hoàng Yến) ĐBQH TP Hồ Chí Minh, TGĐ Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn ông Tâm được VTV 3 xác định là người giàu nhất Việt Nam trong lĩnh vực chứng khoán (dòng chữ chạy trên màn hình). Nhiều người cho biết, bà Đặng Thị Hoàng Yến cũng có nguồn vốn "nặng kí" tại chứng khoán không kém gì em trai. Khi nhà báo Lại Văn Sâm phỏng vấn về nguồn gốc gia đình, quê hương thì ông Đặng Thành Tâm hồ hởi nói: Cha tôi là người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954. Mẹ là người Hải Phòng. Chị em tôi đều sinh ra ở đó (Hải Phòng).
Vậy là, đã rõ. Ông bố là cán bộ tập kết ra Bắc. Bà Yến sinh ngày 1-6-1959 mà bà khẳng định với TBT Báo Người cao tuổi rằng: Tôi sinh ra ở đâu thì khai quê quán ở đấy! Chẳng lẽ dưới thời Mỹ - Diệm, mẹ bà Yến năm 1959 vào Sài Gòn đẻ con ở quận Phú Nhuận xong lại ra Hải Phòng cho đến ngày miền Nam giải phóng?.
Những ai trong vụ án lấy cắp tài liệu mật của Nhà nước?
Năm 1998, lực lượng an ninh kinh tế khá chật vật trong cuộc đấu tranh với nhiều đối tượng thuộc đường dây chạy thầu một số dự án điện (chuyên án AB98), trong đó bà Đặng Thị Hoàng Yến là Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Hoàng Yến (thành lập năm 1997) là đối tượng chính, mắt xích chủ yếu của đường dây này. Qua điều tra, xác minh bà Hoàng Yến đã lập và điều hành một đường dây móc nối vào nội bộ các cơ quan Nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công nghiệp, Văn phòng Chính phủ, Tổng cục Điện lực Việt Nam...) nhằm thu thập tin tức, tài liệu bí mật, cung cấp cho Tập đoàn nước ngoài (ABB) đấu thầu và trúng thầu một số dự án điện lớn của Việt Nam.
Cơ quan Điều tra an ninh kinh tế đã xác định các đối tượng: Đặng Thị Hoàng Yến, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Hoàng Yến; Lâm Minh và Nguyễn Duy Bình, nhân viên văn phòng Công ty ABB tại Việt Nam; Phạm Hữu Hòa, lái xe cho ông Võ Hồng Phúc (khi ấy là Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và một số đối tượng khác. Ngày 2-3-1998, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án "Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước, chiếm đoạt bí mật Nhà nước trong việc đấu thầu các dự án điện". Đồng thời bắt, khám xét, khởi tố và tạm giam 3 bị can (Lâm Minh, Nguyễn Duy Bình và Phạm Hữu Hòa) về tội nêu trên theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Hình sự; riêng Nguyễn Duy Bình có thêm hành vi phạm tội "tiêu hủy tài liệu bí mật của Nhà nước". Vụ án này thu lại được nhiều tài liệu mật của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng công ty Điện lực Việt Nam và Bộ Công nghiệp. Vào thời điểm đó, bà Hoàng Yến đã trốn (thực chất được sự can thiệp của...). Qua khai thác, cả ba bị can bị bắt đều nhận hành vi phạm tội, khai báo rõ việc bà Đặng Thị Hoàng Yến móc nối, chỉ đạo, bày cách lấy cắp tài liệu mật để cung cấp cho ABB. Khi kết thúc điều tra, bà Yến và một số đối tượng bị A17 (Bộ Công an) đưa vào diện cấm xuất cảnh trong 2 năm (từ 16-10-1998 đến 16-10-2000). Sau khi Tổng cục An ninh giải tỏa lệnh cấm xuất cảnh (13-9-2000) bà Yến nỗ lực cho một kế hoạch mới để năm 2002 xuất cảnh đi Mỹ, lưu trú ở Hoa Kỳ đến năm 2007. Tại xứ người, bà Yến kết hôn với một Việt kiều Mỹ. Người này từng phạm tội trộm cắp bị cảnh sát Hoa Kỳ phạt tù một năm...
Chồng của bà Hoàng Yến là ai?
Năm 2007 về nước, bà Hoàng Yến ngồi ngay vào ghế Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo. Năm 2008,
Jimmy Trần
chồng bà từ Hoa Kỳ vào Việt Nam và họ thành lập ngay Công ty CP phát triển đô thị Việt Nam (Vietnam Land) và cùng điều hành doanh nghiệp này.
Người chồng đó của bà Yến là Trần Dũng (tức Jimmy Trần) sinh ngày 27-12-1955 quê ở Quảng Bình, Quốc tịch Mỹ, có hộ chiếu số 461772602 cấp ngày 21-9-2009. Ở bên Mỹ, ông ta cư trú ở 1440 Memorian, Houston, Texas 77024USA. Sang Việt Nam cư trú ở căn hộ số 5 tầng 20 (2005R1), chung cư Everich, số 940B đường 3/2, phường 15, quận 11, TP. Hồ Chí Minh. Jimmy Trần từng bị bắt ngày 18-1-1990 tại Hu-xtơn (Tếch - dát) về tội trộm cắp, bị phạt tù 01 năm. Sang Việt Nam, Jimmy Trần làm Tổng giám đốc Công ty CP phát triển đô thị Việt Nam từ ngày 1-10-2008 đến 20-5-2010 do bà Yến kí quyết định bổ nhiệm. Trong thời gian này, Jimmy Trần đã chiếm đoạt khoảng 210 tỉ đồng của Vietnam Land và các nhà thầu khác, bằng các thủ đoạn: Buộc các nhà thầu phải đặt cọc từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng sau đó chiếm đoạt (Công ty Cà phê Cỏ May 200 triệu đồng, Công ty Hữu Nghị 100 triệu đồng...). Tại công trình nhà máy nhiệt điện Kiên Lương (Kiên Giang), việc san lấp mặt bằng Jimmy Trần chiếm đoạt chênh lệch lên đến gần 200 tỉ đồng. Công ty CP xuất nhập khẩu xây dựng thương mại Hải Thành xác nhận khi kí hợp đồng nạo vét bùn giá 35.000 đ/ m3 yêu cầu chi lại cho ông ta 6.000 đ/ m3 (riêng hợp đồng này cũng chiếm đoạt 7,2 tỉ đồng).v.v... Jimmy Trần còn thực hiện một số hành vi phạm pháp khác như nhờ ông Ma Anh đứng tên mua căn nhà số 5 tầng 20, chung cư Everich số 940 đường 3/2 Lê Đại Hành, Quận I, TP Hồ Chí Minh, với giá hơn 4,1 tỉ đồng và đã bị ông ta chiếm đoạt...
Jimmy Trần còn cùng với Tô-mát Huỳnh và Phạm Nha Thi ở Mỹ thiết lập đường dây chuyển tiền bất hợp pháp từ Việt Nam về Mỹ và ngược lại. Sau khi Công ty Vietnam Land và các nhà thầu tố giác, Jimmy Trần đã trốn về Mỹ ngày 5-7-2010 và đang bị truy nã (Quyết định truy nã số 324/ANĐT ngày 24-9-2010 của Bộ Công an).
Bà Hoàng Yến có bị xúc phạm danh dự?
Bà Hoàng Yến kí đơn đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông làm rõ việc Báo Cựu chiến binh Việt Nam truyền bá nội dung phản động, xuyên tạc, vu khống xúc phạm danh dự ĐBQH... Bà cho rằng "ông Trần Nhung đã giả mạo và lợi dụng uy tín của đồng chí Tổng Bí thư để phục vụ cho ý đồ tống tiền"...
Sự thật bà Yến chi tiền tỉ để "lôi kéo và mua chuộc cử tri" ở 4 huyện của tỉnh Long An trái với Nghị quyết của UBTVQH là có thật sao lại cho là vu khống? Theo báo cáo của các ông Nguyễn Bá Luân, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy; Nguyễn Thanh Liêm, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Nguyễn Thanh Vân, Chánh Văn phòng HĐND-UBND huyện Đức Huệ v.v... thì bà Hoàng Yến đứng ra tổ chức lễ "tri ân cán bộ lão thành cách mạng" được ông Trần Minh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh "duyệt" kế hoạch, đồng ý cho tổ chức ngày 29-4 (riêng lãnh đạo Tỉnh ủy không biết việc này). Ngoài 1.300 đại biểu dự (mỗi đại biểu được nhận 500.000 đồng), bà Hoàng Yến còn tổ chức trao tặng kỉ niệm chương (đặc biệt) cho rất nhiều người, chỉ riêng huyện Đức Huệ có 40 người được nhận. Trong đó có cả Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện, Chỉ huy trưởng BCHQS, Trưởng Công an huyện...). Ngày 4-5-2011 Truyền hình cáp VBC của Tập đoàn Tân Tạo về đơn vị bầu cử số 1 tại xã An Ninh Đông quay chương trình bà Yến tiếp xúc cử tri có làm phỏng vấn. Theo quy định, kênh VBC của Tân Tạo chỉ được phép phát sóng chương trình ca nhạc, chiếu phim mà không có chức năng phát sóng về thời sự chính trị. Rõ ràng kênh VBC (Tân Tạo) vi phạm pháp luật. Ông Liêm, Giám đốc Đài VBC báo cáo với cơ quan An ninh điều tra việc phát sóng về thời sự có liên quan đến công tác bầu cử Quốc hội là thực hiện theo chỉ đạo của Tập đoàn Tân Tạo nhằm mục đích làm tư liệu cho bà Đặng Thị Hoàng Yến...
Trong thời gian trước ngày bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, bà Yến hoạt động rất tích cực ở 4 huyện Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức và Thủ Thừa. Ngoài các điểm tiếp xúc cử tri, bà về nhiều xã và hứa hẹn cho nông dân, phụ nữ vay vốn làm kinh tế, xây cầu, trường học, như ở xã Mỹ Thuận Bắc, bà Yến hứa sẽ hỗ trợ 300 triệu đồng để xây cầu và nhà tình nghĩa... Tuy nhiên, cho đến kì họp Quốc hội lần thứ Nhất, bà Yến chưa cấp 8 tỉ đồng vốn XĐGN cho Hội Nông dân, Hội Phụ nữ 4 huyện và tiền tài trợ xây trường, làm cầu, làm nhà tình nghĩa cho địa phương nào.
Những thông tin nêu trong bài viết này là sự thật, liệu bà Đặng Thị Hoàng Yến có còn cho là vu khống?
Vũ Phong
( Nguồn:http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=7&ID=6419 )
Đây là uẩn khúc ly hôn của bà Đặng Thị Hoàng Yến với Jimy Trần:
Thứ Sáu, 12/08/2011 - 11:05Long An:
Một thẩm phán bị cảnh cáo vì ký 2 bản án trong 1 vụ án
(Dân trí) - TAND tỉnh Long An cho biết vừa có quyết định kỷ luật với hình thức cảnh cáo thẩm phán Lê Văn Lắm vì đã “sơ suất” ký ban hành 2 bản án trong 1 vụ án.
Ngày 20/1, VKSND tỉnh Long An ra quyết định kháng nghị bản án “ly hôn kỳ lạ”, đến ngày 28/2 phải ra quyết định rút lại quyết định kháng nghị dù VKSND Long An vẫn cho rằng quyết định kháng nghị do mình ban hành là có căn cứ.
(Ảnh: Người lao động)
Đây là vụ án ly hôn giữa bà Đ.T.H.Y (ngụ TPHCM) và ông Jimmy Trần (quốc tịch Mỹ).
Bà Y. và ông Jimmy Trần kết hôn tại Mỹ sau đó về Việt Nam để tiến hành đầu tư các dự án kinh doanh. Tháng 9/2010, ông Jimmy Trần bị Cơ quan công an khởi tố về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Lúc này, bà Y. xin ly hôn với ông Trần.
Vụ án ly hôn được thẩm phán Lê Văn Lắm xét xử. Trong kết luận của bản án, bà Y. được giao quyền sử dụng toàn bộ tài sản. Sau đó, ông Lắm đã ký ban hành 2 bản án (1 bản 9 trang và 1 bản 10 trang) và còn chậm phát hành bản án này hơn 20 ngày.
Được biết, trước khi bị sát hại, cố nhà báo Lê Hoàng Hùng đã phát hiện “sự kỳ lạ” của vụ án này.
Huỳnh Hải
CÒN ĐÂY LÀ CÁCH ỨNG XỬ VÀ NỤ CƯỜI HỒN NHIÊN ĐẾN MỨC HẾT SỨC VÔ DUYÊN CỦA VỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NÀY
HỔNG BIẾT BÌNH LUẬN RA SAO NỮA!
Nhìn vào những khuôn mặt đại gia luôn được VTV zoom cận cảnh và lôi ra phỏng vấn, xem “nụ cười ấn tượng” của đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến, đọc lại bài phát biểu “hoành tráng” của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền để biết chất lượng Quốc hội kỳ này.
Bài phát biểu của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền tại phiên thảo luận chiều 5-8:
Kính thưa Chủ tọa kỳ họp.
Kính thưa Quốc hội.
Sau khi nghe báo cáo tình hình kinh tế, đánh giá tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm và những giải pháp của 6 tháng cuối năm, chúng tôi cơ bản thống nhất. Có thể nói những tháng cuối năm năm 2010 và đầu năm 2011 tình hình kinh tế diễn biến không thuận lợi. Kinh thế thế giới gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao, hầu hết các nước trên thế giới và các nước phát triển đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát tăng cao. Ở trong nước tình hình lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái những tháng đầu năm biến động mạnh và diễn biến phức tạp. Có thời điểm lãi suất tiền gửi 16-18%, có lúc cho vay trên 20%. Trước tình hình này Chính phủ đã có Nghị quyết 11, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 02 và Quốc hội cũng đã có Nghị quyết 59 về ưu tiên hàng đầu trong năm 2011 là kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Qua 4 tháng triển khai thực hiện chúng tôi thấy:
Thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội, sự điều hành đồng bộ, quyết liệt của Chính phủ tình hình kinh tế – xã hội những tháng gần đây đã có những chuyển biến tích cực, thu ngân sách đạt 55,1% và tăng 22,8% so với năm 2010, góp phần quan trọng vào việc thực hiện giảm bội chi ngân sách dưới 5% vào cuối năm 2011. Các chương trình đảm bảo an sinh xã hội được triển khai tích cực như hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, cho vay xuất khẩu lao động, giải quyết trợ cấp thất nghiệp v.v… Đặc biệt chúng ta đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Trước tình hình biển Đông có diễn biến phức tạp Chính phủ đã chủ động đấu tranh ngoại giao, được sự đồng tình ủng hộ của các nước trong khu vực và quốc tế thông qua các cuộc tiếp xúc đàm phán song phương v.v… Có thể nói kỳ họp nào Chính phủ cũng báo cáo một bản báo cáo hết sức hoành tráng và có sức thuyết phục. Tuy nhiên, cử tri cả nước cũng còn nhiều băn khoăn, lo lắng:
Thứ nhất, thu ngân sách của chúng ta đạt cao nhưng chất lượng cuộc sống của người dân lại đi xuống. Bởi vì không phải do sản xuất phát triển mà chúng ta thu được ngân sách cao, mà do lạm phát tăng cao nên chúng ta thu được ngân sách cao cho nên chất lượng cuộc sống của người dân đi xuống. Cho nên nhân dân rất băn khoăn và lo lắng việc này. Tôi đề nghị Chính phủ cần phải sớm nghiên cứu vấn đề này.
Thứ hai, đồng tiền của chúng ta mất giá ghê gớm. Ngày xưa chúng ta phát hành tiền thì tính bằng tiền xu, nhưng bây giờ đi chợ tính bằng tiền nghìn, tức là mất giá đến 1.000 lần, lòng tin của nhân dân đối với đồng tiền bị giảm sút ghê gớm. Lãi suất ngân hàng quá cao cho nên doanh nghiệp và người dân không tiếp cận, nếu có tiếp cận được thì cũng không đủ trả lãi cho ngân hàng. Tôi đề nghị vấn đề này cần nghiên cứu. Đợt lạm phát lần trước chúng tôi đi giám sát thì các ngân hàng cho rằng chúng tôi đã cho vay dư nợ tín dụng hơn 30% mà ngân hàng quyết định dư nợ tín dụng không quá 20%, chủ yếu là thu hồi nợ. Lần này lạm phát tăng cao chúng ta cũng thắt chặt chính sách tiền tệ, dư nợ tín dụng quy định chặt hơn tức là dưới 20% thì càng khó khăn hơn nữa. Các doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn. Đây là vấn đề mọi người hết sức lo lắng.
Thứ ba, tình trạng tham nhũng, tai nạn giao thông, tình hình biển Đông chưa có nhiều hướng làm. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của chúng ta còn rất yếu cho nên vấn đề này cần xem lại. Tai nạn giao thông không được kiềm chế mỗi năm chết khoảng 12 – 15 nghìn, bị thương từ 25 đến 30 nghìn người. Tình hình biển Đông diễn biến phức tạp. Làm sao để nhiệm kỳ này cố gắng lấy lại quần đảo Hoàng Sa (đoạn này khi đưa vào biên bản lưu tại trang tin điện tử Quốc hội đã bị cắt- TDN). Tôi thấy những vấn đề tồn tại nêu trên trong Chính phủ mới cần phải có nghiên cứu để khắc phục làm sao điều hành trong Chính phủ mới tiến bộ hơn.
Về 8 nhóm giải pháp chúng tôi cơ bản đồng tình như Chính phủ nêu. Trong này có 2 báo cáo, một báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư nêu 10 giải pháp, nhưng báo cáo của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thì có 8 giải pháp. Chúng tôi bổ sung thêm một giải pháp thứ 9 tức là kích cầu bởi vì nếu chúng ta thắt chặt chính sách tiền tệ thì chắc chắn đến cuối năm kinh tế sẽ suy giảm, đã suy giảm thì đương nhiên phải có gói kích cầu, nếu không có thì từ nay đến cuối năm các doanh nghiệp, người nông dân sản xuất gặp nhiều khó khăn. Tôi đề nghị bổ sung thêm một gói kích cầu, tất nhiên gói kích cầu lần này tôi đề nghị phải khoanh nợ, giãn nợ cho nông dân và doanh nghiệp. Chúng ta đầu tư cho vay mới để tập trung cho sản xuất, không như lần trước chúng ta đầu tư kích cầu chúng ta lại dùng đồng tiền đó đáo hạn ngân hàng thì không mang lại lợi ích thiết thực. Cho nên kích cầu lần này phải kích cầu trực tiếp cho người nông dân, doanh nghiệp và khoanh nợ, giãn nợ cho doanh nghiệp.
Đối với Chính phủ mới người dân rất tin tưởng và kỳ vọng sẽ làm chuyển biến được tình hình kinh tế – xã hội, trong giai đoạn phát triển mới cử tri cũng đòi hỏi thành viên Chính phủ phải có trái tim nóng bỏng, đầy nhiệt huyết nhưng cái đầu phải lạnh và phải có bàn tay sạch thì mới điều hành đất nước được. Nếu trái tim nóng bỏng nhưng cái đầu cũng nóng, quyết định sáng đúng chiều sai đến mai lại đúng thì rất gay cho nên phải có cái đầu lạnh toát để nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện và phải có bàn tay sạch.
Thứ hai là phải tiêu diệt được tham nhũng và kìm chế được tai nạn giao thông, quần đảo Trường Sa bây giờ do Trung Quốc chiếm cho nên chúng ta cũng phải kiên quyết chỗ này. Nhân dân bảo chống là chưa đủ mà phải tiêu diệt được tham nhũng, kìm chế tai nạn giao thông và duy trì được tốc độ phát triển kinh tế ổn định. Đó là những vấn đề nhân dân gửi gắm, các Bộ trưởng phát biểu rất hay trước báo chí nhưng cử tri có gửi gắm là nếu như không thực hiện đúng lời hứa của mình thì phải thực hiện văn hóa từ chức, theo Điều 87 của Luật tổ chức Quốc hội hoặc Điều 88, bỏ phiếu bất tín nhiệm các Bộ trưởng nếu như không hoàn thành nhiệm vụ hứa trước cử tri.
Đối với cử tri Lâm Đồng nhân dịp kỳ họp này có kiến nghị với Đảng, Chính phủ và Quốc hội 6 vấn đề sau:
Thứ nhất, phải đầu tư xây dựng ngay con đường vận chuyển bô xit, nhà máy bô xit sắp xong rồi tốc độ vận chuyển rất lớn, nếu đi chung con đường đó thì không đảm bảo cho nên đề nghị cho khởi công xây dựng ngay đường vận chuyển bô xit.
Thứ hai, đề nghị trước mắt xây dựng con đường cao tốc Đà Lạt – Dầu Giây, từ nhiệm kỳ trước chúng tôi đã kiến nghị rồi nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Thứ ba là cho nâng cấp ngay quốc lộ 20 và quốc lộ 27 để đảm bảo giao thông.
Thứ tư là đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường Đông Trường Sơn từ Đà Lạt lên Đà Nẵng, việc này rất chậm đã 4 năm từ nhiệm kỳ trước đến nay mà mới làm một đoạn cũng chưa xong.
Thứ năm, theo nghị quyết của Chính phủ và nghị quyết của Đảng là xây dựng phát triển vùng Tây Nguyên, làm 3 hồ thủy lợi cho đồng bào dân tộc nhưng đã 10 năm mới làm được một cái, còn hồ Đạ Lây, Đạ Sị ở Cát Tiên và Đạ Tẻh là chưa làm.
Thứ sáu, chúng tôi đề nghị nâng cấp thành phố Đà Lạt trực thuộc Trung ương và tỉnh Lâm Đồng về Bảo Lộc, trước đây là hai tỉnh. Đây là những kiến nghị của cử tri Lâm Đồng, chúng tôi sẽ theo dõi và theo đuổi cái này đến cùng. Xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.
(Nguồn: Trang tin điện tử Quốc hội)
Nguồn dẫn lại: Blog Trương Duy Nhất
CÒN ĐÂY LÀ CHÂN DUNG NỮ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐẶNG THỊ HOÀNG YẾN (ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH TIỀN GIANG)
ĐẸP MẶT MỘT VỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA NÀY: BÀ ĐẶNG THỊ HOÀNG YẾN
Chân dung bà Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo
Sau khi Báo Người cao tuổi đăng bài "Vấn đề bạn đọc quan tâm: "Tri ân" các cụ hay mua chuộc cử tri" (số 941) và bài "Sự thật về ĐBQH Đặng Thị Hoàng Yến" (số 942), trưa ngày 6-8-2011, bà Đặng Thị Hoàng Yến chủ động gọi điện cho Tổng biên tập Báo Người cao tuổi thông báo rằng các bài viết sai sự thật, phản ánh theo nội dung báo chí nước ngoài về bà và cho biết sẽ có luật sư đến gặp để làm rõ.
Khi Tổng biên tập Báo Người cao tuổi hỏi bà bài viết sai những gì? Bà Yến lí giải ba chi tiết. Một là, nêu quê bà ở Hải Phòng là không đúng. Bà khai quê quán ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh là nơi bà được sinh ra (sinh ở đâu khai quê ở đó). Hai là, trong đời bà chưa bao giờ biết đến vụ án nào đó như báo nêu bà từng bị khởi tố. Ba là, bà xuất cảnh đi Mỹ là được cấp VISA cùng giấy phép đầu tư nước ngoài, tại sao lại viết là trốn?...
Bà Hoàng Yến sinh ra ở đâu?
Trong tiểu sử tóm tắt của bà Đặng Thị Hoàng Yến (khai theo mẫu số 3/BCĐBQH) ngày 12-3-2011 được niêm yết ở các điểm bầu cử tại 4 huyện Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức và Thủ Thừa ghi quê quán: Phường 10, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Căn 31, đường 1A, Tổ ANND 01, khu E, City Tân Đức, ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, Long An. Ngoài các chức danh báo đã nêu, bà Hoàng Yến còn là Chủ tịch diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Hoa Kỳ; thành viên Hội đồng tư vấn các nước ASEAN - ASEAN BAC (...). Xin nói thêm, bà Yến là Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo từ năm 2007 (sau khi ở Mỹ về nước) nhưng trong tiểu sử ứng cử ĐBQH bà khai là chức vụ đó đảm nhiệm từ 1-1994 đến nay.
Trong khi Tổng biên tập Báo NCT chỉ đạo phóng viên tiếp tục xác minh, trả lời chính xác quê bà Yến thì hồi 8 giờ ngày 7-8-2011 (Chủ nhật), trong chương trình Khách mời của VTV3 do nhà báo Lại Văn Sâm dẫn chương trình, ngồi đối thoại với ông Đặng Thành Tâm (em ruột bà Đặng Thị Hoàng Yến) ĐBQH TP Hồ Chí Minh, TGĐ Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn ông Tâm được VTV 3 xác định là người giàu nhất Việt Nam trong lĩnh vực chứng khoán (dòng chữ chạy trên màn hình). Nhiều người cho biết, bà Đặng Thị Hoàng Yến cũng có nguồn vốn "nặng kí" tại chứng khoán không kém gì em trai. Khi nhà báo Lại Văn Sâm phỏng vấn về nguồn gốc gia đình, quê hương thì ông Đặng Thành Tâm hồ hởi nói: Cha tôi là người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954. Mẹ là người Hải Phòng. Chị em tôi đều sinh ra ở đó (Hải Phòng).
Vậy là, đã rõ. Ông bố là cán bộ tập kết ra Bắc. Bà Yến sinh ngày 1-6-1959 mà bà khẳng định với TBT Báo Người cao tuổi rằng: Tôi sinh ra ở đâu thì khai quê quán ở đấy! Chẳng lẽ dưới thời Mỹ - Diệm, mẹ bà Yến năm 1959 vào Sài Gòn đẻ con ở quận Phú Nhuận xong lại ra Hải Phòng cho đến ngày miền Nam giải phóng?.
Những ai trong vụ án lấy cắp tài liệu mật của Nhà nước?
Năm 1998, lực lượng an ninh kinh tế khá chật vật trong cuộc đấu tranh với nhiều đối tượng thuộc đường dây chạy thầu một số dự án điện (chuyên án AB98), trong đó bà Đặng Thị Hoàng Yến là Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Hoàng Yến (thành lập năm 1997) là đối tượng chính, mắt xích chủ yếu của đường dây này. Qua điều tra, xác minh bà Hoàng Yến đã lập và điều hành một đường dây móc nối vào nội bộ các cơ quan Nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công nghiệp, Văn phòng Chính phủ, Tổng cục Điện lực Việt Nam...) nhằm thu thập tin tức, tài liệu bí mật, cung cấp cho Tập đoàn nước ngoài (ABB) đấu thầu và trúng thầu một số dự án điện lớn của Việt Nam.
Cơ quan Điều tra an ninh kinh tế đã xác định các đối tượng: Đặng Thị Hoàng Yến, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Hoàng Yến; Lâm Minh và Nguyễn Duy Bình, nhân viên văn phòng Công ty ABB tại Việt Nam; Phạm Hữu Hòa, lái xe cho ông Võ Hồng Phúc (khi ấy là Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và một số đối tượng khác. Ngày 2-3-1998, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án "Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước, chiếm đoạt bí mật Nhà nước trong việc đấu thầu các dự án điện". Đồng thời bắt, khám xét, khởi tố và tạm giam 3 bị can (Lâm Minh, Nguyễn Duy Bình và Phạm Hữu Hòa) về tội nêu trên theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Hình sự; riêng Nguyễn Duy Bình có thêm hành vi phạm tội "tiêu hủy tài liệu bí mật của Nhà nước". Vụ án này thu lại được nhiều tài liệu mật của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng công ty Điện lực Việt Nam và Bộ Công nghiệp. Vào thời điểm đó, bà Hoàng Yến đã trốn (thực chất được sự can thiệp của...). Qua khai thác, cả ba bị can bị bắt đều nhận hành vi phạm tội, khai báo rõ việc bà Đặng Thị Hoàng Yến móc nối, chỉ đạo, bày cách lấy cắp tài liệu mật để cung cấp cho ABB. Khi kết thúc điều tra, bà Yến và một số đối tượng bị A17 (Bộ Công an) đưa vào diện cấm xuất cảnh trong 2 năm (từ 16-10-1998 đến 16-10-2000). Sau khi Tổng cục An ninh giải tỏa lệnh cấm xuất cảnh (13-9-2000) bà Yến nỗ lực cho một kế hoạch mới để năm 2002 xuất cảnh đi Mỹ, lưu trú ở Hoa Kỳ đến năm 2007. Tại xứ người, bà Yến kết hôn với một Việt kiều Mỹ. Người này từng phạm tội trộm cắp bị cảnh sát Hoa Kỳ phạt tù một năm...
Chồng của bà Hoàng Yến là ai?
Năm 2007 về nước, bà Hoàng Yến ngồi ngay vào ghế Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo. Năm 2008,
Jimmy Trần
chồng bà từ Hoa Kỳ vào Việt Nam và họ thành lập ngay Công ty CP phát triển đô thị Việt Nam (Vietnam Land) và cùng điều hành doanh nghiệp này.
Người chồng đó của bà Yến là Trần Dũng (tức Jimmy Trần) sinh ngày 27-12-1955 quê ở Quảng Bình, Quốc tịch Mỹ, có hộ chiếu số 461772602 cấp ngày 21-9-2009. Ở bên Mỹ, ông ta cư trú ở 1440 Memorian, Houston, Texas 77024USA. Sang Việt Nam cư trú ở căn hộ số 5 tầng 20 (2005R1), chung cư Everich, số 940B đường 3/2, phường 15, quận 11, TP. Hồ Chí Minh. Jimmy Trần từng bị bắt ngày 18-1-1990 tại Hu-xtơn (Tếch - dát) về tội trộm cắp, bị phạt tù 01 năm. Sang Việt Nam, Jimmy Trần làm Tổng giám đốc Công ty CP phát triển đô thị Việt Nam từ ngày 1-10-2008 đến 20-5-2010 do bà Yến kí quyết định bổ nhiệm. Trong thời gian này, Jimmy Trần đã chiếm đoạt khoảng 210 tỉ đồng của Vietnam Land và các nhà thầu khác, bằng các thủ đoạn: Buộc các nhà thầu phải đặt cọc từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng sau đó chiếm đoạt (Công ty Cà phê Cỏ May 200 triệu đồng, Công ty Hữu Nghị 100 triệu đồng...). Tại công trình nhà máy nhiệt điện Kiên Lương (Kiên Giang), việc san lấp mặt bằng Jimmy Trần chiếm đoạt chênh lệch lên đến gần 200 tỉ đồng. Công ty CP xuất nhập khẩu xây dựng thương mại Hải Thành xác nhận khi kí hợp đồng nạo vét bùn giá 35.000 đ/ m3 yêu cầu chi lại cho ông ta 6.000 đ/ m3 (riêng hợp đồng này cũng chiếm đoạt 7,2 tỉ đồng).v.v... Jimmy Trần còn thực hiện một số hành vi phạm pháp khác như nhờ ông Ma Anh đứng tên mua căn nhà số 5 tầng 20, chung cư Everich số 940 đường 3/2 Lê Đại Hành, Quận I, TP Hồ Chí Minh, với giá hơn 4,1 tỉ đồng và đã bị ông ta chiếm đoạt...
Jimmy Trần còn cùng với Tô-mát Huỳnh và Phạm Nha Thi ở Mỹ thiết lập đường dây chuyển tiền bất hợp pháp từ Việt Nam về Mỹ và ngược lại. Sau khi Công ty Vietnam Land và các nhà thầu tố giác, Jimmy Trần đã trốn về Mỹ ngày 5-7-2010 và đang bị truy nã (Quyết định truy nã số 324/ANĐT ngày 24-9-2010 của Bộ Công an).
Bà Hoàng Yến có bị xúc phạm danh dự?
Bà Hoàng Yến kí đơn đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông làm rõ việc Báo Cựu chiến binh Việt Nam truyền bá nội dung phản động, xuyên tạc, vu khống xúc phạm danh dự ĐBQH... Bà cho rằng "ông Trần Nhung đã giả mạo và lợi dụng uy tín của đồng chí Tổng Bí thư để phục vụ cho ý đồ tống tiền"...
Sự thật bà Yến chi tiền tỉ để "lôi kéo và mua chuộc cử tri" ở 4 huyện của tỉnh Long An trái với Nghị quyết của UBTVQH là có thật sao lại cho là vu khống? Theo báo cáo của các ông Nguyễn Bá Luân, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy; Nguyễn Thanh Liêm, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Nguyễn Thanh Vân, Chánh Văn phòng HĐND-UBND huyện Đức Huệ v.v... thì bà Hoàng Yến đứng ra tổ chức lễ "tri ân cán bộ lão thành cách mạng" được ông Trần Minh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh "duyệt" kế hoạch, đồng ý cho tổ chức ngày 29-4 (riêng lãnh đạo Tỉnh ủy không biết việc này). Ngoài 1.300 đại biểu dự (mỗi đại biểu được nhận 500.000 đồng), bà Hoàng Yến còn tổ chức trao tặng kỉ niệm chương (đặc biệt) cho rất nhiều người, chỉ riêng huyện Đức Huệ có 40 người được nhận. Trong đó có cả Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện, Chỉ huy trưởng BCHQS, Trưởng Công an huyện...). Ngày 4-5-2011 Truyền hình cáp VBC của Tập đoàn Tân Tạo về đơn vị bầu cử số 1 tại xã An Ninh Đông quay chương trình bà Yến tiếp xúc cử tri có làm phỏng vấn. Theo quy định, kênh VBC của Tân Tạo chỉ được phép phát sóng chương trình ca nhạc, chiếu phim mà không có chức năng phát sóng về thời sự chính trị. Rõ ràng kênh VBC (Tân Tạo) vi phạm pháp luật. Ông Liêm, Giám đốc Đài VBC báo cáo với cơ quan An ninh điều tra việc phát sóng về thời sự có liên quan đến công tác bầu cử Quốc hội là thực hiện theo chỉ đạo của Tập đoàn Tân Tạo nhằm mục đích làm tư liệu cho bà Đặng Thị Hoàng Yến...
Trong thời gian trước ngày bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, bà Yến hoạt động rất tích cực ở 4 huyện Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức và Thủ Thừa. Ngoài các điểm tiếp xúc cử tri, bà về nhiều xã và hứa hẹn cho nông dân, phụ nữ vay vốn làm kinh tế, xây cầu, trường học, như ở xã Mỹ Thuận Bắc, bà Yến hứa sẽ hỗ trợ 300 triệu đồng để xây cầu và nhà tình nghĩa... Tuy nhiên, cho đến kì họp Quốc hội lần thứ Nhất, bà Yến chưa cấp 8 tỉ đồng vốn XĐGN cho Hội Nông dân, Hội Phụ nữ 4 huyện và tiền tài trợ xây trường, làm cầu, làm nhà tình nghĩa cho địa phương nào.
Những thông tin nêu trong bài viết này là sự thật, liệu bà Đặng Thị Hoàng Yến có còn cho là vu khống?
Vũ Phong
( Nguồn:http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=7&ID=6419 )
Đây là uẩn khúc ly hôn của bà Đặng Thị Hoàng Yến với Jimy Trần:
Thứ Sáu, 12/08/2011 - 11:05Long An:
Một thẩm phán bị cảnh cáo vì ký 2 bản án trong 1 vụ án
(Dân trí) - TAND tỉnh Long An cho biết vừa có quyết định kỷ luật với hình thức cảnh cáo thẩm phán Lê Văn Lắm vì đã “sơ suất” ký ban hành 2 bản án trong 1 vụ án.
Ngày 20/1, VKSND tỉnh Long An ra quyết định kháng nghị bản án “ly hôn kỳ lạ”, đến ngày 28/2 phải ra quyết định rút lại quyết định kháng nghị dù VKSND Long An vẫn cho rằng quyết định kháng nghị do mình ban hành là có căn cứ.
(Ảnh: Người lao động)
Đây là vụ án ly hôn giữa bà Đ.T.H.Y (ngụ TPHCM) và ông Jimmy Trần (quốc tịch Mỹ).
Bà Y. và ông Jimmy Trần kết hôn tại Mỹ sau đó về Việt Nam để tiến hành đầu tư các dự án kinh doanh. Tháng 9/2010, ông Jimmy Trần bị Cơ quan công an khởi tố về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Lúc này, bà Y. xin ly hôn với ông Trần.
Vụ án ly hôn được thẩm phán Lê Văn Lắm xét xử. Trong kết luận của bản án, bà Y. được giao quyền sử dụng toàn bộ tài sản. Sau đó, ông Lắm đã ký ban hành 2 bản án (1 bản 9 trang và 1 bản 10 trang) và còn chậm phát hành bản án này hơn 20 ngày.
Được biết, trước khi bị sát hại, cố nhà báo Lê Hoàng Hùng đã phát hiện “sự kỳ lạ” của vụ án này.
Huỳnh Hải
CÒN ĐÂY LÀ CÁCH ỨNG XỬ VÀ NỤ CƯỜI HỒN NHIÊN ĐẾN MỨC HẾT SỨC VÔ DUYÊN CỦA VỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NÀY
HỔNG BIẾT BÌNH LUẬN RA SAO NỮA!
Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011
Đừng ngộ nhận trạng thái tâm lý bị kích động với tấm lòng yêu nước
Chiều ngày 2 tháng 8 năm 2011, Giám đốc CAHN họp báo thông báo văn bản trả lời kiến nghị của một nhóm người yêu nước về hành vi đàn áp người biểu tình yêu nước. Trong bản thông báo, CAHN cho rằng sau khi điều tra xác minh theo nội dung đơn kiến nghị nhận thấy không có chuyện đàn áp người biểu tình, càng không có chuyện khiêng và đạp vào mặt người biểu tình như đơn tố cáo của nhóm trí thức gửi cho Giám đốc CAHN. Về chi tiết trong đoạn video được lưu truyền trên mạng internet cho thấy trong cuộc biểu tình ngày 18/7 tại Hà Nội có 4 công an HN trong lúc đỉnh điểm khi giải tán đoàn biểu tình đã cưỡng chế khiêng một người biểu tình (được biết với cái tên là Nguyễn Chí Đức, một thanh niên còn khá trẻ)lên một chiếc xe buyt đợi sẵn tại đoạn đường sắt giao nhau với đường bộ ở Cửa Nam. Trong đoạn video nay cũng cómột chi tiết càng đáng chú ý này là trước khi Đức bị 4 công anh khiêng và bị đẩy lên xe buýt thì anh đã bị một cảnh sát mặt thường phục ( sau này được biết với cái tên là Minh-đội phó đội an ninh Công an Quận Hoàn Kiếm)đã dùng chân đạp thẳng vào mặt Nguyễn Chí Đức. Hình ảnh trong Video rất rõ nét đến từng chi tiết. Song trong văn bản trả lời hôm nay thì CAHN lại phủ nhận điều đó vì cho rằng ngay cả anh Nguyễn Chí Đức cũng không thừa nhận có chuyện đó và Đức cho rằng sở dĩ bị xây xát là do lộn xộn chứ không ai đạp vào mặt mình cả?!. Thực hư không biết có ra sao (do Đức thựa nhận là như vậy, hay CAHN cố tình dựng chuyện nay, song theo suy đoán của tôi rất có thể chuyện Nguyễn Chí Đức tự phủ nhận chi tiết công án đạp vào mặt mình là có thật. Lý do là: Có lẽ do Đức quá lo sợ sự trả thù của CAHN hoặc cảm thấy nao núng trước sự hù dọa của cánh công an trong quá trình làm việc với Đức. Phản ứng sợ sệt là bản năng của con người trước các mối nguy hiểm đến tính mạng hoặc các lợi ích có liên quan đến bản thân. Đối với rất nhiều người từng phải đối mặt với cánh CAVN thì trạng thái tâm lý sợ sệt thường xảy ra, vì công an Việt Nam rất có kinh nghiệm lung lạc đối phương khi hỏi cung. Khả năng này thường thấy trong những năm chiến tranh trước đây. Huống chi trong bối cảnh của một cuộc sống bình thường, một công dân bình thường rất dễ rơi vào trạng thái tâm lý hoang mang, sợ hãi thậm chí thiếu tỉnh táo về hành vi và tâm lý khi phải đối mặt với nghiệp vụ của cánh công an (họ lung lạc đối phương, bắt đối phương phải thừa nhận hay phủ nhận hành vi của mình miễn là có lợi cho họ và ở đây rất ít chỗ dành cho sự trung thực khách quan như trường hợp các em gái trong vụ án mua bán dâm ở Hà Giang gần 1 năm trước đây chẳng hạn. Tuy nhiên, trong trường hợp của Nguyễn Chí Đức vốn là nạn nhân của "cú đạp lịch sử" được cả nước thậm chí cả thế giới biết đến nhưng khi đối mặt với an ninh dù mới bị họ hù dọa có mấy câu mà trở nên sợ sệt đến nỗi nhắm mắt phủ nhận hành vi bất nhân của tay cảnh sát tên Minh của công an Quận Hoàn Kiếm khi đạp vào mặt mình (được xác thực bằng đoạn video khá rõ nét đến mức CAHN cũng gián tiếp thừa nhận khi đã đình chỉ công tác đối với đại úy Minh để làm rõ trách nhiệm). Thế mà Nguyễn Chí Đức đã tự phủ nhận thì quả là hèn cho một thanh niên lâu nay vẫn tự nhận mình là một trong những người yêu nước nên đã tích cực đi biểu tỉnh. Sự phủ nhận của Đức cùng với sự chứng thực gian dối của một số bác sĩ tại bệnh viện Việt Đức đã tạo cớ cho CAHN viết ra bản thông báo trả lời nhóm kiến nghị với nội dung sai trái bịa đặt trên đây. Thôi, hãy không bình luận sự bịa đặt trắng trợn của CAHN trong bản thông báo (vì đổi trắng thay đen vốn là bản chất của không ít cơ quan công quyền của chế độ HN hiện nay) nhưng hành vi tự lừa dối mình, lừa dối những người tham gia biểu tình từng bảo vệ, ủng hộ và lên án hành vi bất nhân của CAHN trước dư luận của Nguyễn Chí Đức là điều rất đáng trách. Thiết nghĩ, những ai nhất là các bạn trẻ khi tham gia biểu tình cần cân nhắc suy nghĩ cho kỹ với 2 điều: một là, nếu yêu nước thì hãy kiên định tấm lòng son của mình với đất nước và hai là, trong quá trình tụ tập biểu tình cần điềm tĩnh tránh có hành động dẫn đến khiêu khích và đàn áp của CA đối với đoàn biểu tình. Không nên đi biểu tình với thái độ bị kích động mất kiểm soát vừa có hại cho mình vừa có hại cho người khác.
Ba Sàm đưa tin:”một CTV thân thiết, là Công an Quận Hoàn Kiếm đã đình chỉ công tác tên Đại úy Minh, kẻ tội đồ đạp mặt anh Chí Đức trong cuộc biểu tình ngày 17/7 đã đi vào lịch sử. Hy vọng sự vụ sẽ được giải quyết rốt ráo.
Nhưng bác sĩ kết luận anh Đức không bị thương tích. Nạn nhân, tức anh Đức trong bản tường trình đã xác nhận không bị đánh, đạp. Minh thì tường trình đó không phải là hành động chủ quan. Vậy chắc sẽ … hòa cả làng”.
Mình thì nghĩ sẽ không có chuyện hòa cả làng. Người bị hại ở đây không chỉ riêng anh Đức mà những người biểu tình, rộng ra là người yêu nước, rộng ra nữa là nhân dân.
Thư của những người tham gia, ủng hộ biểu tinh gửi ông giám đốc công an Hà -Nội
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——*——
Hà Nội, ngày 25 tháng 07 năm 2011
Kính gửi: Ông Nguyễn Đức Nhanh
Giám đốc Công an thành phố Hà Nội
1.Chúng tôi những người tham gia và ủng hộ các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông ghi nhận và hoan nghênh Công an thành phố Hà Nội (CATPHN) đã không sử dụng vũ lực đối với người tham gia biểu tình yêu nước trong buổi sáng Chủ nhật 24/7/2011 vừa qua.
2.Tuy nhiên, chúng tôi hoàn toàn không tán thành việc một số nhân viên an ninh đã ngấm ngầm hoặc công khai gây phiền nhiễu sinh hoạt bình thường của một số công dân nhằm ngăn cản họ thực hiện quyền biểu tình được Hiến pháp quy định.
3. Chúng tôi cũng muốn nhắc lại sự việc đáng tiếc xảy ra trong hai cuộc biểu tình tự phát gần đây đã bị CATPHN trấn áp, đặc biệt là cuộc biểu tình diễn ra sáng ngày 17/07/2011. Chúng tôi tiếp tục đề nghị ông Giám đốc CATPHN trả lời trước công luận về mấy nội dung sau:
a. Căn cứ theo quy định nào của Pháp luật, CATPHN đã bắt giữ người mà không có lệnh hợp pháp trong cuộc biểu tình ngày 17/07/2011 (ít nhất 46 người).
b. Bức ảnh bốn Công an “khiêng” một công dân trong cuộc biểu tình trên đã được nhiều hãng thông tấn Quốc tế truyền tin khắp thế giới. Công dân này bị “khiêng” đến một chiếc xe buýt và một nhân viên an ninh mặc thường phục trên xe buýt đã dùng chân đạp vào mặt, miệng công dân đó nhiều lần. Video Clip về cảnh này cũng được truyền khắp trên Internet.
Hiện nay, quần chúng nhân dân đã xác định được danh tính của nhân viên an ninh trong video clip nói trên là Minh, đội phó đội an ninh, công an quận Hoàn Kiếm.
Chúng tôi đề nghị Ông chỉ đạo xác minh thông tin trên, nếu đúng thì phải xử lý theo quy định của pháp luật, nếu sai thì công bố để không ảnh hưởng đến uy tín của CA TPHN. Nếu việc xác định của nhân dân là đúng thì anh Minh có dấu hiệu phạm tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”(quy định tại điều 281 Bộ luật Hình sự). Hành vi của anh Minh thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này, cụ thể: anh Minh, 1) Là người có chức vụ, quyền hạn; 2) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng vũ lực trái công vụ, gây thiệt hại về thể chất và nhân phẩm cho nạn nhân, gây phẫn nộ trong nhân dân; 3) Phạm tội với lỗi cố ý, với động cơ coi thường pháp luật, coi thường nhân dân, chà đạp, cản trở việc thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Minh phạm tội với hai tình tiết tăng nặng quy định tại điểm d và điểm h khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự: Phạm tội có tính chất côn đồ và phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được.
Tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” không phải là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, cơ quan điều tra phải chủ động khởi tố vụ án, không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại. Sự tha thứ cao thượng của người bị hại (nếu có) đối với người phạm tội chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chứ không phải là lý do để cơ quan điều tra không khởi tố vụ án hình sự.
Nếu Ông không giải quyết sớm văn thư này, chúng tôi sẽ buộc phải sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để yêu cầu cấp cao hơn sẽ xử lý cá nhân anh Minh và những vị lãnh đạo khác có liên quan của Công an Quận Hoàn Kiếm và CA TPHN.
Kính chào Ông!
Những công dân Việt Nam tham gia và ủng hộ các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông tại Hà Nội ký tên:
Nguyễn Huệ Chi
Phạm Duy Hiển
Nguyễn Nguyên Bình
Chu Hảo
Trần Nhương
Phạm Xuân Nguyên
Nguyễn Thị Hồng Ngát
Trần Kỳ Trung
Nguyễn Xuân Diện
Lê Dũng
Nguyễn Tiến Nam
Hoàng Cường
Đặng Bích Phượng
Dẫn theo B a Sàm
Ba Sàm đưa tin:”một CTV thân thiết, là Công an Quận Hoàn Kiếm đã đình chỉ công tác tên Đại úy Minh, kẻ tội đồ đạp mặt anh Chí Đức trong cuộc biểu tình ngày 17/7 đã đi vào lịch sử. Hy vọng sự vụ sẽ được giải quyết rốt ráo.
Nhưng bác sĩ kết luận anh Đức không bị thương tích. Nạn nhân, tức anh Đức trong bản tường trình đã xác nhận không bị đánh, đạp. Minh thì tường trình đó không phải là hành động chủ quan. Vậy chắc sẽ … hòa cả làng”.
Mình thì nghĩ sẽ không có chuyện hòa cả làng. Người bị hại ở đây không chỉ riêng anh Đức mà những người biểu tình, rộng ra là người yêu nước, rộng ra nữa là nhân dân.
Thư của những người tham gia, ủng hộ biểu tinh gửi ông giám đốc công an Hà -Nội
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——*——
Hà Nội, ngày 25 tháng 07 năm 2011
Kính gửi: Ông Nguyễn Đức Nhanh
Giám đốc Công an thành phố Hà Nội
1.Chúng tôi những người tham gia và ủng hộ các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông ghi nhận và hoan nghênh Công an thành phố Hà Nội (CATPHN) đã không sử dụng vũ lực đối với người tham gia biểu tình yêu nước trong buổi sáng Chủ nhật 24/7/2011 vừa qua.
2.Tuy nhiên, chúng tôi hoàn toàn không tán thành việc một số nhân viên an ninh đã ngấm ngầm hoặc công khai gây phiền nhiễu sinh hoạt bình thường của một số công dân nhằm ngăn cản họ thực hiện quyền biểu tình được Hiến pháp quy định.
3. Chúng tôi cũng muốn nhắc lại sự việc đáng tiếc xảy ra trong hai cuộc biểu tình tự phát gần đây đã bị CATPHN trấn áp, đặc biệt là cuộc biểu tình diễn ra sáng ngày 17/07/2011. Chúng tôi tiếp tục đề nghị ông Giám đốc CATPHN trả lời trước công luận về mấy nội dung sau:
a. Căn cứ theo quy định nào của Pháp luật, CATPHN đã bắt giữ người mà không có lệnh hợp pháp trong cuộc biểu tình ngày 17/07/2011 (ít nhất 46 người).
b. Bức ảnh bốn Công an “khiêng” một công dân trong cuộc biểu tình trên đã được nhiều hãng thông tấn Quốc tế truyền tin khắp thế giới. Công dân này bị “khiêng” đến một chiếc xe buýt và một nhân viên an ninh mặc thường phục trên xe buýt đã dùng chân đạp vào mặt, miệng công dân đó nhiều lần. Video Clip về cảnh này cũng được truyền khắp trên Internet.
Hiện nay, quần chúng nhân dân đã xác định được danh tính của nhân viên an ninh trong video clip nói trên là Minh, đội phó đội an ninh, công an quận Hoàn Kiếm.
Chúng tôi đề nghị Ông chỉ đạo xác minh thông tin trên, nếu đúng thì phải xử lý theo quy định của pháp luật, nếu sai thì công bố để không ảnh hưởng đến uy tín của CA TPHN. Nếu việc xác định của nhân dân là đúng thì anh Minh có dấu hiệu phạm tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”(quy định tại điều 281 Bộ luật Hình sự). Hành vi của anh Minh thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này, cụ thể: anh Minh, 1) Là người có chức vụ, quyền hạn; 2) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng vũ lực trái công vụ, gây thiệt hại về thể chất và nhân phẩm cho nạn nhân, gây phẫn nộ trong nhân dân; 3) Phạm tội với lỗi cố ý, với động cơ coi thường pháp luật, coi thường nhân dân, chà đạp, cản trở việc thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Minh phạm tội với hai tình tiết tăng nặng quy định tại điểm d và điểm h khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự: Phạm tội có tính chất côn đồ và phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được.
Tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” không phải là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, cơ quan điều tra phải chủ động khởi tố vụ án, không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại. Sự tha thứ cao thượng của người bị hại (nếu có) đối với người phạm tội chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chứ không phải là lý do để cơ quan điều tra không khởi tố vụ án hình sự.
Nếu Ông không giải quyết sớm văn thư này, chúng tôi sẽ buộc phải sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để yêu cầu cấp cao hơn sẽ xử lý cá nhân anh Minh và những vị lãnh đạo khác có liên quan của Công an Quận Hoàn Kiếm và CA TPHN.
Kính chào Ông!
Những công dân Việt Nam tham gia và ủng hộ các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông tại Hà Nội ký tên:
Nguyễn Huệ Chi
Phạm Duy Hiển
Nguyễn Nguyên Bình
Chu Hảo
Trần Nhương
Phạm Xuân Nguyên
Nguyễn Thị Hồng Ngát
Trần Kỳ Trung
Nguyễn Xuân Diện
Lê Dũng
Nguyễn Tiến Nam
Hoàng Cường
Đặng Bích Phượng
Dẫn theo B a Sàm
Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011
Nguyên Ngọc: Giáo sư Văn Như Cương nhầm rồi!
Lời mào đầu của nhà văn Nguyễn Quang Lập: Sau khi đưa bài Để nhận ra cái biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử trên SGTT, mình nhận được email của bác Nguyên Ngọc gửi cho bản gốc, với lời nhắn: “Đây là bài nguyên văn, Sài gòn tiếp thị đã cắt hơn nửa bài. Tùy Lập sử dụng.” Rất mừng, xin chân thành cảm ơn bác Nguyên Ngọc đã gửi cho bản gốc, đọc rất sướng.
Giáo sư Văn Như Cương viết: “Trong kì thi đại học vừa qua, điểm thi môn Sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ 1 thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy Sử và học Sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh…”
Thưa giáo sư Cương, ông nhầm rồi! Có một nhà quản lý giáo dục, mà là người đứng đầu, có trách nhiệm lớn nhất trong các nhà quản lý giáo dục, không hề “đau đầu” như giáo sư tưởng và tin. Trái lại, với cái đầu vô cùng thanh thản, hết sức vui vẻ thoải mái, tuyệt đối bình tĩnh, ông ấy nói: “Đấy là chuyện bình thường”. Chuyện nhỏ xíu ấy mà, gì mà rối lên thế! Thậm chí thấp vậy chứ thấp nữa, chẳng hạn toàn bộ thí sinh thi sử đều bị điểm không, cũng chẳng lay chuyển được sự bình tâm của ông, bởi vì ông đã có một phép mầu, ông đã tìm ra một thủ phạm tuyệt đối và tuyệt vời: Thời đại! Chắc như đinh đóng cột và với một sự liều lĩnh khó tin, ông tuyên bố trước những người đối thoại: “Điểm Lịch sử thấp là vấn đề của thời đại. Các bạn hãy nhìn rộng ra nhiều nước, không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng ấy… Có những thứ do thời đại, do xu thế phát triển tác động. Nhìn kỹ một chút các bạn sẽ thấy môn lịch sử kém thu hút, điểm Lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động…” Nghĩa là ngoài “thời đại”, ông còn tìm ra thêm được mấy thủ phạm đích đáng nữa, đều là con đẻ của cái “thời đại” chết tiệt kia: “xu thế phát triển”, “thế hệ này”, “cách mạng khoa học công nghệ”, “sự biến đổi đòi hỏi của thị trường lao động” v.v…
Liều lĩnh khó tin, bởi xin hỏi: nhờ ông “nhìn rộng ra” và chỉ cho biết, dù chỉ một ví dụ thôi, với tất cả các thủ phạm như ông đã dễ dàng phát hiện, có nơi nào trên toàn thế giới có kết quả thi môn lịch sử thê thảm như vừa rồi trong nền giáo dục do ông đảm trách trước quốc dân?
Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc.
Trước hết, chính các thứ thời đại, xu thế, thế hệ, cách mạng khoa học công nghệ, biến đổi thị trường lao động… như ông vừa kể lại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Xin nêu một bằng chứng: chính là đứng trước những vấn đề như vậy, mà cách đây mấy năm trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ “thời đại” nào, thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người, cho sự phát triển bền vững, cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền. Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi. Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục suy đồi. Và bế tắc. Buồn thay đó chính là tình trạng thực của nền giáo dục chúng ta hiện nay. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội, còn những người đứng đầu ngành giáo dục thì bình chân như vại. Tất nhiên vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu quả nó định đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì, vì lý do “thời đại” càng không, có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Đấy là thảm họa, bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi các giá trị tinh thần và nhân văn chẳng còn đáng xu nào! Một thảm họa xã hội!
Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng” – . Vì sao? Rất đơn giản, và chắc cũng không ít người biết rõ nhưng vì lý do này khác đã không nói ra. Thôi thì cho tôi nói thật vậy: vì đó là những môn bị chính trị hóa nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Rất cần thiết và cũng có thể rất hay. Học chính trị là quá cần thiết chứ, và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Cũng không phải là “thống soái” để cho tất cả những cái khác, môn khác phải châu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người. Nói trắng ra, hiện nay người ta chán, ghét học văn, học sử, là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác. Một ví dụ: có lần tôi đã nói với một người hiện có vị trí rất cao trong lãnh đạo đất nước rằng tất cả các đề thi sử tốt nghiệp và thi vào đại học gần 40 năm nay đều chỉ hỏi về lịch sử Việt Nam từ sau năm 1930. Cứ như chỉ từ năm 1930 nước ta mới có cái gọi là lịch sử, còn trước đó … chỉ là tiền sử, là thời man dã, người còn là khỉ vượn gì đó thôi chứ chưa thành người! Ông ấy ngạc nhiên hỏi thật thế sao? Thì anh cứ kiểm tra mà xem, tôi bảo. Không biết sau đó ông ấy có kiểm tra không, nhưng rồi không thấy ông nói gì nữa … Học sử học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.
Ông Bộ trưởng hỏi: Thì tin học có gì hấp dẫn đâu nào, tại sao người ta vẫn lao vào học? Một là, hấp dẫn quá chứ, ít nhất nó cũng cho ta thấy con người có thể sáng tạo ra những thứ thông mình đến chừng nào, chẳng thú vị sao? Nhưng còn có điều quan trọng hơn: nó không bị chính trị hóa, không dễ gì chính trị hóa nó như văn và sử.
Vậy đó, sự thật! Còn e dè, sợ “nhạy cảm”, tránh né nhau, kiêng sợ những lực lượng vô hình như thần thánh, không dám nói thật ra thì có thay đổi cách học cách dạy đến mấy, khéo sang năm môn sử lại 99,99% dưới điểm 5 cho mà xem. Và văn cũng không hơn đâu. Nhìn thẳng, nói thẳng một lần cho xong đi, để mà còn tiến lên cùng thiên hạ, để có một nền giáo dục thực sự lành mạnh và hiệu quả, đào tạo con người ra người, cho một đất nước thật sự văn minh.
Gần đây giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. Giáo sư Hoàng Tụy thì nói: Phải “thế tục hóa”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở chấu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hóa giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kìm chế lâu dài của Nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tụy trong ý nghĩa đó.
Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này: Ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy Ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa Lịch ra sử dụng trong Công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tùy tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử tuyệt nhiên cũng không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi như lời ông Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong “thời đại” này, cái thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới. Đặc biệt hôm nay, khi vận mệnh Tổ quốc một lần nữa lại đứng trước thử thách lớn.
N. N
Tác giả gửi cho Quêchoa
Lời bình của chủ Blog:
1) Người lãnh đạo mà nhà văn Nguyên Ngọc nói trong bài báo này tôi đoán là ông Nguyễn Thiện Nhân-Đại ca của ông Phạm Vũ Luận- ông Bộ trưởng có phát ngôn hồ đồ nhất từ trước tới nay
2)Thủ phạm trực tiếp gây ra sự suy thoái trong các ngành khoa học Việt Nam hiện nay (trong đó có các ngành KHXH và NV) chính là ông Nguyễn Thiện Nhân, hiện đang là PTT phụ trách mảng văn xã của nước ta.
Giáo sư Văn Như Cương viết: “Trong kì thi đại học vừa qua, điểm thi môn Sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ 1 thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy Sử và học Sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh…”
Thưa giáo sư Cương, ông nhầm rồi! Có một nhà quản lý giáo dục, mà là người đứng đầu, có trách nhiệm lớn nhất trong các nhà quản lý giáo dục, không hề “đau đầu” như giáo sư tưởng và tin. Trái lại, với cái đầu vô cùng thanh thản, hết sức vui vẻ thoải mái, tuyệt đối bình tĩnh, ông ấy nói: “Đấy là chuyện bình thường”. Chuyện nhỏ xíu ấy mà, gì mà rối lên thế! Thậm chí thấp vậy chứ thấp nữa, chẳng hạn toàn bộ thí sinh thi sử đều bị điểm không, cũng chẳng lay chuyển được sự bình tâm của ông, bởi vì ông đã có một phép mầu, ông đã tìm ra một thủ phạm tuyệt đối và tuyệt vời: Thời đại! Chắc như đinh đóng cột và với một sự liều lĩnh khó tin, ông tuyên bố trước những người đối thoại: “Điểm Lịch sử thấp là vấn đề của thời đại. Các bạn hãy nhìn rộng ra nhiều nước, không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng ấy… Có những thứ do thời đại, do xu thế phát triển tác động. Nhìn kỹ một chút các bạn sẽ thấy môn lịch sử kém thu hút, điểm Lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động…” Nghĩa là ngoài “thời đại”, ông còn tìm ra thêm được mấy thủ phạm đích đáng nữa, đều là con đẻ của cái “thời đại” chết tiệt kia: “xu thế phát triển”, “thế hệ này”, “cách mạng khoa học công nghệ”, “sự biến đổi đòi hỏi của thị trường lao động” v.v…
Liều lĩnh khó tin, bởi xin hỏi: nhờ ông “nhìn rộng ra” và chỉ cho biết, dù chỉ một ví dụ thôi, với tất cả các thủ phạm như ông đã dễ dàng phát hiện, có nơi nào trên toàn thế giới có kết quả thi môn lịch sử thê thảm như vừa rồi trong nền giáo dục do ông đảm trách trước quốc dân?
Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc.
Trước hết, chính các thứ thời đại, xu thế, thế hệ, cách mạng khoa học công nghệ, biến đổi thị trường lao động… như ông vừa kể lại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Xin nêu một bằng chứng: chính là đứng trước những vấn đề như vậy, mà cách đây mấy năm trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ “thời đại” nào, thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người, cho sự phát triển bền vững, cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền. Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi. Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục suy đồi. Và bế tắc. Buồn thay đó chính là tình trạng thực của nền giáo dục chúng ta hiện nay. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội, còn những người đứng đầu ngành giáo dục thì bình chân như vại. Tất nhiên vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu quả nó định đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì, vì lý do “thời đại” càng không, có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Đấy là thảm họa, bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi các giá trị tinh thần và nhân văn chẳng còn đáng xu nào! Một thảm họa xã hội!
Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng” – . Vì sao? Rất đơn giản, và chắc cũng không ít người biết rõ nhưng vì lý do này khác đã không nói ra. Thôi thì cho tôi nói thật vậy: vì đó là những môn bị chính trị hóa nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Rất cần thiết và cũng có thể rất hay. Học chính trị là quá cần thiết chứ, và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Cũng không phải là “thống soái” để cho tất cả những cái khác, môn khác phải châu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người. Nói trắng ra, hiện nay người ta chán, ghét học văn, học sử, là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác. Một ví dụ: có lần tôi đã nói với một người hiện có vị trí rất cao trong lãnh đạo đất nước rằng tất cả các đề thi sử tốt nghiệp và thi vào đại học gần 40 năm nay đều chỉ hỏi về lịch sử Việt Nam từ sau năm 1930. Cứ như chỉ từ năm 1930 nước ta mới có cái gọi là lịch sử, còn trước đó … chỉ là tiền sử, là thời man dã, người còn là khỉ vượn gì đó thôi chứ chưa thành người! Ông ấy ngạc nhiên hỏi thật thế sao? Thì anh cứ kiểm tra mà xem, tôi bảo. Không biết sau đó ông ấy có kiểm tra không, nhưng rồi không thấy ông nói gì nữa … Học sử học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.
Ông Bộ trưởng hỏi: Thì tin học có gì hấp dẫn đâu nào, tại sao người ta vẫn lao vào học? Một là, hấp dẫn quá chứ, ít nhất nó cũng cho ta thấy con người có thể sáng tạo ra những thứ thông mình đến chừng nào, chẳng thú vị sao? Nhưng còn có điều quan trọng hơn: nó không bị chính trị hóa, không dễ gì chính trị hóa nó như văn và sử.
Vậy đó, sự thật! Còn e dè, sợ “nhạy cảm”, tránh né nhau, kiêng sợ những lực lượng vô hình như thần thánh, không dám nói thật ra thì có thay đổi cách học cách dạy đến mấy, khéo sang năm môn sử lại 99,99% dưới điểm 5 cho mà xem. Và văn cũng không hơn đâu. Nhìn thẳng, nói thẳng một lần cho xong đi, để mà còn tiến lên cùng thiên hạ, để có một nền giáo dục thực sự lành mạnh và hiệu quả, đào tạo con người ra người, cho một đất nước thật sự văn minh.
Gần đây giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. Giáo sư Hoàng Tụy thì nói: Phải “thế tục hóa”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở chấu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hóa giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kìm chế lâu dài của Nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tụy trong ý nghĩa đó.
Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này: Ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy Ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa Lịch ra sử dụng trong Công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tùy tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử tuyệt nhiên cũng không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi như lời ông Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong “thời đại” này, cái thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới. Đặc biệt hôm nay, khi vận mệnh Tổ quốc một lần nữa lại đứng trước thử thách lớn.
N. N
Tác giả gửi cho Quêchoa
Lời bình của chủ Blog:
1) Người lãnh đạo mà nhà văn Nguyên Ngọc nói trong bài báo này tôi đoán là ông Nguyễn Thiện Nhân-Đại ca của ông Phạm Vũ Luận- ông Bộ trưởng có phát ngôn hồ đồ nhất từ trước tới nay
2)Thủ phạm trực tiếp gây ra sự suy thoái trong các ngành khoa học Việt Nam hiện nay (trong đó có các ngành KHXH và NV) chính là ông Nguyễn Thiện Nhân, hiện đang là PTT phụ trách mảng văn xã của nước ta.
Đúng là sự hàm hồ, vô văn hóa của một tờ "lề phải" điển hình
Ngày 31/07/2011, Tờ báo QĐND điện tử chủ nhật có bài viết của tác giả Nguyễn Văn Minh với nhan đề: "Báo chí lề trái" hay là “rác rưởi" trên internet? Đọc bài báo này, dù mình tuy không phải là nhà báo song cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm. Cái thằng Nguyễn Văn Minh là ai mà dám xúc phạm những trang Blog cá nhân. Đọc nội dung bài báo này thấy khẩu khí của lũ "chó ngao" được nhập khẩu từ Trung Quốc từ thời Cách mạng văn hóa. Đúng là sự hàm hồ, vô văn hóa của một tờ "lề phải" điển hình.
QĐND - Chủ Nhật, , 21:12 (GMT+7)
QĐND - Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 18-7-2011 đăng bài “Vô tình phát tán luồng gió độc”, phản ánh việc một số blogger để blog của mình thành nơi gây hại cho xã hội. Sau khi báo đăng, xuất hiện một số phản hồi chẳng những không phản biện được vấn đề tác giả nêu mà còn xuyên tạc, bao biện bằng cách tự “tấn phong” các blog đó là “báo chí lề trái”. Vậy thực chất cái gọi là “báo chí lề trái” mà họ thường rêu rao gần đây là gì?
Bằng một sự “phân chia” nguy hiểm, họ đã tự xếp các trang web, blog phản động cũng là một lực lượng báo chí. Bằng hình ảnh ẩn dụ “lề trái và lề phải”, họ cho rằng, lực lượng này đối lập hoàn toàn với hệ thống báo chí Việt Nam và đang tiến hành một “cuộc chiến tranh thông tin” theo kiểu “du kích”. Bằng giọng điệu đầy thù hận, họ đòi phải viết lại lịch sử báo chí Việt Nam đầu thế kỷ 21 để ghi công trạng của những trang “lề trái” này. Bằng lập luận giả dối để đánh lừa dư luận, họ coi báo chí chính thống không còn đáng tin cậy, báo “lề trái” như những “chiến sĩ xung kích”, là “tiếng sét giữa trời quang”, là “kênh thông tin trung lập, trung thực nhất, chuẩn xác nhất”...
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, mặc dù nhiều blog hiện nay tích hợp nhiều chức năng, trình bày không khác một tờ báo điện tử, nhưng “cái áo không làm nên ông thầy tu”. Luật Báo chí nước ta nêu rõ: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân”. Luật pháp Việt Nam hiện chưa cho phép báo chí tư nhân. Các trang web, blog nói trên cũng không phải là cơ quan ngôn luận của một đoàn thể, lực lượng xã hội nào ở Việt Nam, không được pháp luật thừa nhận thì không thể coi là hoạt động báo chí ở Việt Nam.
Gần đây, một số trang web cá nhân, blog do vi phạm pháp luật đã bị xử lý. Hầu hết các thông tin họ thu thập và đưa lên blog của mình đều gắn với tư tưởng bất mãn, giọng điệu hằn học. Không ít thông tin nhằm mục đích tuyên truyền chống phá Nhà nước. Khi bị xử lý theo pháp luật, họ bù lu, bù loa kêu rằng Việt Nam "bóp nghẹt tự do báo chí", "tự do ngôn luận". Họ kêu toáng lên như vậy mặc dù họ thừa biết rằng, ở Việt Nam không ai bị hạn chế trong việc lập blog và thông tin cho báo chí. Bất kỳ ai có nhu cầu sử dụng blog cũng như đưa tin cho báo chí đều có thể thực hiện hết sức dễ dàng. Còn với các cơ quan báo chí, hiện các tờ báo in và điện tử, cũng như các báo nói, báo hình hằng ngày, hằng giờ đều tiếp nhận thông tin của người dân, cộng tác viên qua rất nhiều kênh: Thư từ, điện thoại, email, fax, gặp gỡ trực tiếp... "Kẻ tung, người hứng", một số tổ chức quốc tế lại lên tiếng bảo vệ những blogger vi phạm pháp luật, lên án Việt Nam ứng xử thô bạo với blogger...
Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới này, không ai có thể nhân danh tự do ngôn luận mà đưa thông tin xấu độc, gây hại cho xã hội và cộng đồng. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, người luôn kêu gọi tự do internet trên thế giới, cũng từng nói: “Hiện nay chúng tôi nhận ra rằng việc mở rộng internet có những thách thức. Việc này cần đến những luật chơi căn bản nhất để chống lại những việc làm sai trái và có hại. Những lời lẽ thù hận và phỉ báng có thể làm căng thẳng, gây chia rẽ và đưa đến xung đột. Trên mạng, sức mạnh này lại được nhân lên gấp bội. Chiếu theo luật lệ quốc gia và những cam kết quốc tế, Hoa Kỳ có đặt ra một số giới hạn trong vấn đề phát biểu”. Hoa Kỳ là nước phát triển với trình độ tổ chức xã hội cao còn có quan điểm như vậy thì với một nước đang phát triển như Việt Nam, không thể không áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia. Luật Báo chí ở Việt Nam không hạn chế quyền tự do thông tin của người dân, nhưng những thông tin gây hại cho cộng đồng thì sẽ bị hạn chế như: Không được kích động chống Nhà nước, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; không được kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, không được kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác; không được tiết lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định; không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống....
Các chính sách quản lý internet của Nhà nước Việt Nam cũng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích cộng đồng, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực của internet. Các chính sách này đã được thảo luận cả trên diễn đàn Quốc hội và Chính phủ và được sự quan tâm của toàn xã hội. Vì vậy, ở đây chúng tôi thấy cần phải trao đổi thêm với một số comment (phản hồi) sau bài báo “Vô tình phát tán luồng gió độc”, rằng không thể viện dẫn các chính sách quản lý internet để “nhai lại” ý kiến “Việt Nam là một trong 10 nước bị liệt vào danh sách “kẻ thù của internet” như tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) đưa ra. Theo thống kê của ITU, cơ quan thuộc Liên hợp quốc thì vào năm 2000, Việt Nam chỉ có khoảng 200.000 người sử dụng internet, chiếm 0,3% dân số thì đến cuối tháng 11-2010 là 27,3 triệu người, chiếm khoảng 31,7% dân số và lọt vào danh sách 20 quốc gia có số người sử dụng internet nhiều nhất thế giới. Hiện ở Việt Nam, có 6 trang mạng xã hội phát triển nhất gồm: ZingMe với 4,6 triệu thành viên, Facebook với 3,5 triệu thành viên và Yahoo có 3,1 triệu người dùng. Các trang còn lại như: Yume với 2,6 triệu người, GoOnline có 1,6 triệu, Tamtay có 1 triệu người dùng… Tổ chức RSF, trên thực tế cũng không đủ uy tín khi đưa ra báo cáo hồ đồ về tình hình sử dụng internet ở Việt Nam. Tổ chức này từng thừa nhận nhận tài trợ của NED, cơ quan bị cáo buộc chuyên sử dụng tiền thuế của người dân Mỹ vào hoạt động đe dọa các nền dân chủ ở nước ngoài và đã bị UNESCO từ chối bảo trợ vì thiếu khách quan khi công bố những tài liệu liên quan đến một số quốc gia thành viên UNESCO.
Nhìn lại ba loại thông tin của các trang web, blog mà họ tự xưng là “báo chí lề trái” thời gian qua, cũng đủ thấy ngay ý đồ của chủ nhân các trang này. Một là, trước các kỳ đại hội Đảng, kỳ họp Quốc hội, họ dồn dập đưa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc về lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Hai là, họ nhặt nhạnh thông tin từ đủ mọi nguồn, kể cả nguồn "thông tin vỉa hè" rồi phát tán các thông tin “ngược dòng lịch sử” để bôi nhọ lãnh tụ, bôi đen lịch sử dân tộc theo kiểu “rước voi về giày mồ ông vải”. Ba là, họ tỏ ra thạo tin, nhanh nhảu đưa những thông tin “hậu trường” về các vụ án, vụ việc kinh tế, xã hội, văn hóa, những tiêu cực xã hội rồi quy kết cho sự yếu kém của chính quyền và kích động lật đổ Nhà nước, lật đổ chế độ... Giọng điệu chửi bới, ngôn ngữ thô tục, "chợ búa", thiếu văn hóa..., đó không phải là thứ văn phong báo chí, chỉ là thứ thông tin “ba xu” không hơn không kém. Nhiều blogger cũng đã lên tiếng phản đối việc này.
Đến đây, có thể khẳng định, cái gọi là "báo chí lề trái" thực chất chỉ là một thứ "rác rưởi" trên xa lộ thông tin toàn cầu internet. Tuy có thể ban đầu thu hút sự tò mò, hiếu kỳ của người đọc bởi những thông tin lạ nhưng bạn đọc chân chính sẽ sớm nhận ra chân tướng và không rỗi hơi mất thời gian với loại web, blog lá cải, đi ngược dòng chảy chung này. Không phải ngẫu nhiên mà gần đây, một bạn sinh viên đã có bài viết trên blog nêu ra những “dấu hiệu nhận biết phản động trên facebook, blog, website”. Không ít bạn trẻ đã phản đối những trang này và yêu cầu xử lý chúng để làm trong sạch môi trường internet, giúp người dân được tiếp cận thông tin trung thực, bổ ích.
Nguyễn Văn Minh
QĐND - Chủ Nhật, , 21:12 (GMT+7)
QĐND - Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 18-7-2011 đăng bài “Vô tình phát tán luồng gió độc”, phản ánh việc một số blogger để blog của mình thành nơi gây hại cho xã hội. Sau khi báo đăng, xuất hiện một số phản hồi chẳng những không phản biện được vấn đề tác giả nêu mà còn xuyên tạc, bao biện bằng cách tự “tấn phong” các blog đó là “báo chí lề trái”. Vậy thực chất cái gọi là “báo chí lề trái” mà họ thường rêu rao gần đây là gì?
Bằng một sự “phân chia” nguy hiểm, họ đã tự xếp các trang web, blog phản động cũng là một lực lượng báo chí. Bằng hình ảnh ẩn dụ “lề trái và lề phải”, họ cho rằng, lực lượng này đối lập hoàn toàn với hệ thống báo chí Việt Nam và đang tiến hành một “cuộc chiến tranh thông tin” theo kiểu “du kích”. Bằng giọng điệu đầy thù hận, họ đòi phải viết lại lịch sử báo chí Việt Nam đầu thế kỷ 21 để ghi công trạng của những trang “lề trái” này. Bằng lập luận giả dối để đánh lừa dư luận, họ coi báo chí chính thống không còn đáng tin cậy, báo “lề trái” như những “chiến sĩ xung kích”, là “tiếng sét giữa trời quang”, là “kênh thông tin trung lập, trung thực nhất, chuẩn xác nhất”...
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, mặc dù nhiều blog hiện nay tích hợp nhiều chức năng, trình bày không khác một tờ báo điện tử, nhưng “cái áo không làm nên ông thầy tu”. Luật Báo chí nước ta nêu rõ: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân”. Luật pháp Việt Nam hiện chưa cho phép báo chí tư nhân. Các trang web, blog nói trên cũng không phải là cơ quan ngôn luận của một đoàn thể, lực lượng xã hội nào ở Việt Nam, không được pháp luật thừa nhận thì không thể coi là hoạt động báo chí ở Việt Nam.
Gần đây, một số trang web cá nhân, blog do vi phạm pháp luật đã bị xử lý. Hầu hết các thông tin họ thu thập và đưa lên blog của mình đều gắn với tư tưởng bất mãn, giọng điệu hằn học. Không ít thông tin nhằm mục đích tuyên truyền chống phá Nhà nước. Khi bị xử lý theo pháp luật, họ bù lu, bù loa kêu rằng Việt Nam "bóp nghẹt tự do báo chí", "tự do ngôn luận". Họ kêu toáng lên như vậy mặc dù họ thừa biết rằng, ở Việt Nam không ai bị hạn chế trong việc lập blog và thông tin cho báo chí. Bất kỳ ai có nhu cầu sử dụng blog cũng như đưa tin cho báo chí đều có thể thực hiện hết sức dễ dàng. Còn với các cơ quan báo chí, hiện các tờ báo in và điện tử, cũng như các báo nói, báo hình hằng ngày, hằng giờ đều tiếp nhận thông tin của người dân, cộng tác viên qua rất nhiều kênh: Thư từ, điện thoại, email, fax, gặp gỡ trực tiếp... "Kẻ tung, người hứng", một số tổ chức quốc tế lại lên tiếng bảo vệ những blogger vi phạm pháp luật, lên án Việt Nam ứng xử thô bạo với blogger...
Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới này, không ai có thể nhân danh tự do ngôn luận mà đưa thông tin xấu độc, gây hại cho xã hội và cộng đồng. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, người luôn kêu gọi tự do internet trên thế giới, cũng từng nói: “Hiện nay chúng tôi nhận ra rằng việc mở rộng internet có những thách thức. Việc này cần đến những luật chơi căn bản nhất để chống lại những việc làm sai trái và có hại. Những lời lẽ thù hận và phỉ báng có thể làm căng thẳng, gây chia rẽ và đưa đến xung đột. Trên mạng, sức mạnh này lại được nhân lên gấp bội. Chiếu theo luật lệ quốc gia và những cam kết quốc tế, Hoa Kỳ có đặt ra một số giới hạn trong vấn đề phát biểu”. Hoa Kỳ là nước phát triển với trình độ tổ chức xã hội cao còn có quan điểm như vậy thì với một nước đang phát triển như Việt Nam, không thể không áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia. Luật Báo chí ở Việt Nam không hạn chế quyền tự do thông tin của người dân, nhưng những thông tin gây hại cho cộng đồng thì sẽ bị hạn chế như: Không được kích động chống Nhà nước, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; không được kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, không được kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác; không được tiết lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định; không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống....
Các chính sách quản lý internet của Nhà nước Việt Nam cũng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích cộng đồng, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực của internet. Các chính sách này đã được thảo luận cả trên diễn đàn Quốc hội và Chính phủ và được sự quan tâm của toàn xã hội. Vì vậy, ở đây chúng tôi thấy cần phải trao đổi thêm với một số comment (phản hồi) sau bài báo “Vô tình phát tán luồng gió độc”, rằng không thể viện dẫn các chính sách quản lý internet để “nhai lại” ý kiến “Việt Nam là một trong 10 nước bị liệt vào danh sách “kẻ thù của internet” như tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) đưa ra. Theo thống kê của ITU, cơ quan thuộc Liên hợp quốc thì vào năm 2000, Việt Nam chỉ có khoảng 200.000 người sử dụng internet, chiếm 0,3% dân số thì đến cuối tháng 11-2010 là 27,3 triệu người, chiếm khoảng 31,7% dân số và lọt vào danh sách 20 quốc gia có số người sử dụng internet nhiều nhất thế giới. Hiện ở Việt Nam, có 6 trang mạng xã hội phát triển nhất gồm: ZingMe với 4,6 triệu thành viên, Facebook với 3,5 triệu thành viên và Yahoo có 3,1 triệu người dùng. Các trang còn lại như: Yume với 2,6 triệu người, GoOnline có 1,6 triệu, Tamtay có 1 triệu người dùng… Tổ chức RSF, trên thực tế cũng không đủ uy tín khi đưa ra báo cáo hồ đồ về tình hình sử dụng internet ở Việt Nam. Tổ chức này từng thừa nhận nhận tài trợ của NED, cơ quan bị cáo buộc chuyên sử dụng tiền thuế của người dân Mỹ vào hoạt động đe dọa các nền dân chủ ở nước ngoài và đã bị UNESCO từ chối bảo trợ vì thiếu khách quan khi công bố những tài liệu liên quan đến một số quốc gia thành viên UNESCO.
Nhìn lại ba loại thông tin của các trang web, blog mà họ tự xưng là “báo chí lề trái” thời gian qua, cũng đủ thấy ngay ý đồ của chủ nhân các trang này. Một là, trước các kỳ đại hội Đảng, kỳ họp Quốc hội, họ dồn dập đưa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc về lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Hai là, họ nhặt nhạnh thông tin từ đủ mọi nguồn, kể cả nguồn "thông tin vỉa hè" rồi phát tán các thông tin “ngược dòng lịch sử” để bôi nhọ lãnh tụ, bôi đen lịch sử dân tộc theo kiểu “rước voi về giày mồ ông vải”. Ba là, họ tỏ ra thạo tin, nhanh nhảu đưa những thông tin “hậu trường” về các vụ án, vụ việc kinh tế, xã hội, văn hóa, những tiêu cực xã hội rồi quy kết cho sự yếu kém của chính quyền và kích động lật đổ Nhà nước, lật đổ chế độ... Giọng điệu chửi bới, ngôn ngữ thô tục, "chợ búa", thiếu văn hóa..., đó không phải là thứ văn phong báo chí, chỉ là thứ thông tin “ba xu” không hơn không kém. Nhiều blogger cũng đã lên tiếng phản đối việc này.
Đến đây, có thể khẳng định, cái gọi là "báo chí lề trái" thực chất chỉ là một thứ "rác rưởi" trên xa lộ thông tin toàn cầu internet. Tuy có thể ban đầu thu hút sự tò mò, hiếu kỳ của người đọc bởi những thông tin lạ nhưng bạn đọc chân chính sẽ sớm nhận ra chân tướng và không rỗi hơi mất thời gian với loại web, blog lá cải, đi ngược dòng chảy chung này. Không phải ngẫu nhiên mà gần đây, một bạn sinh viên đã có bài viết trên blog nêu ra những “dấu hiệu nhận biết phản động trên facebook, blog, website”. Không ít bạn trẻ đã phản đối những trang này và yêu cầu xử lý chúng để làm trong sạch môi trường internet, giúp người dân được tiếp cận thông tin trung thực, bổ ích.
Nguyễn Văn Minh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



