My Blog: Tác giả Bùi Tính, nếu đọc lướt cứ nghĩ là ông Bùi Tín. Đúng là lúc đầu mình cũng có nhầm, nhưng bây giờ thỉnh thoảng đọc của ông này cũng thấy hay. Bài viết này không phải có ý "thù địch" mà đậm chất tư duy phản biện. Thiết nghĩ, mình đăng cũng là để mình tự suy ngẫm xem thỉnh thoảng mình có bị "lố" không.
Bùi Tính - Những trò lố
Báo Hà Nội Mới ra ngày 21 tháng 8 chính thức gọi hành động biểu tình chống yêu nước là "trò lố”. Do hiến pháp Việt Nam quy định công dân có quyền tự do báo chí nên tôi không thể nói việc này là do chính quyền đạo diễn được. Nói vậy mấy anh em an ninh lại quy chụp chống Nhà Nước thì nguy. Tôi cũng chẳng ngạc nhiên khi báo chí nói về người yêu nước như vậy, ngược lại, tôi thầm cám ơn tờ báo này. Lâu nay, tôi không biết gọi mấy cái chuyện liên quan đến việc điều hành đất nước bằng từ gì. Nay thì rõ ràng, dùng từ trò lố là hay nhất.
Trò "lố" này là của một người đẹp ở Việt Nam
Trước tiên, xin nhắc cho bà con nhớ là tháng 9 này được gọi là “Tháng An Toàn Giao Thông”. Thật ra đây là một trò lố của chính quyền. Thế 11 tháng khác thì gọi là cái gì? Đến tháng này, các ông ấy huy động toàn bộ lực lượng công an giao thông ra trực chiến, chưa kể cơ động, công an phường, dân phòng ra hỗ trợ. Đi đâu cũng thấy băng rôn, khẩu hiệu “an toàn là bạn, tai nạn là thù”, “Đã uống rượu bia thì không lái xe”. Trong khi từ năm này qua năm khác, dùng đủ các “chiêu” mà tai nạn giao thông chỉ tăng chứ không giảm. Bao nhiêu cái đầu “đỉnh cao trí tuệ” không biết để đâu? Mỗi năm có một cái tháng gọi là “Tháng An Toàn Giao Thông” chắc chỉ có ở Việt Nam. Không là trò lố thì là gì nữa?
Có tháng trò lố thì cũng có “tuần trò lố”. Đó là tuần lễ an toàn vệ sinh thực phẩm. Từng đoàn, từng đoàn đi kiểm tra các doanh nghiệp. Lập biên bản, phạt hành chính, ký giấy cam kết… rồi đâu lại hoàn đó. Ngộ độc vẫn ngộ độc, thịt thối vẫn thối, rau nhiễm hóa chất vẫn đầy hóa chất. Không hiểu nổi toàn đỉnh cao trí tuệ mà suy nghĩ luẩn quẩn như gà mắc tóc. Pháp luật đâu không dùng đến? Một năm 52 tuần các ông bảo vệ người dân 1 tuần, phát động tùm lum, đó không là trò lố thì là cái gì?
Nếu như hai trò lố trên gần đây mới có thì một trò lố tiêu biểu đã có cách đây khá lâu đó là “Chủ đề năm học”. Mỗi một năm học ở Việt Nam sẽ có một chủ đề. Một số chủ đề gần đây là:
- 2007-2008: “Năm học kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”
- 2008-2009: “Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin”.
- 2009-2010: “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”,
- 2010-2011: “Năm học tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục
Không biết năm nay sẽ là chủ đề gì đây. Hy vọng là không có. Theo tôi thì năm học nào cũng cần phải kỷ cương, năm nào cũng phải nâng cao chất lượng giáo dục. Và ứng dụng CNTT thì phải thường xuyên, liên tục theo đà tiến bộ của công nghệ. Một cá nhân hay một tổ chức có thể phát động phong trào, phát động chủ đề. Chứ chuyện kinh bang tế thế, chuyện giáo dục thì phải có luật pháp, có chiến lược, có tư tưởng rõ ràng. Quản lý giáo dục bằng các trò lố như “chủ đề năm học”, “nói không với bệnh thành tích”, thì giáo dục không nát bét mới lạ.
Mỗi khi nhìn hình ảnh ông Hồ Chí Minh đeo khăn quàng đỏ, tôi không sao nhịn được cười. Lố kinh khủng. Đội viên chủ tịch nước Hồ Chí Minh! Các lãnh đạo của ta học hỏi tấm gương này rất nhanh. Ngày khai giảng, các ông ấy mặc đồng phục học sinh, đeo khăn quàng đỏ đánh trống. Đúng là trò lố. Trên không ra trên, chủ tịch, phó thủ tướng như mấy ông diễn hề trên sân khấu thảo nào ở dưới nó chẳng thèm nghe!
Gần như ngay sau khi ở hải ngoại xuất hiện bộ phim : “Sự thật về Hồ Chí Minh” thì ở trong nước phát động phong trào “học tập tấm gương đạo đức HCM”. Cái phong trào này thật sự là một trò lố. Bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển cũng đều phải dựa vào nhà nước pháp trị - thượng tôn luật pháp (*). Đằng này lại… sống - chiến đấu - lao động - học tập theo gương một ông nào đó thì đúng là dở hơi. Giả dụ ông ấy tuyệt vời đến đâu thì cũng có cái sai. Mà dù sao thì ông ấy cũng chẳng bao giờ “đúng” bằng luật pháp được. Có lố không khi ông quan chức hàng đầu hứa trước dân chúng… “sẽ theo gương bác”. Cái trò lố “Theo Gương Bác” được đẩy lên cao trào bằng cách giới thiệu các điển hình mà họ cố tình gán ghép “Theo Gương Bác” một cách lố lăng.
- Một chị cán bộ thuế đúng hẹn với dân vì “Bác dạy người công chức phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”.
- Một anh công nhân kỹ thuật sáng chế được thiết bị ra dây nhảy đa dụng vì “Trong công việc cũng như trong cuộc sống tôi luôn học ở Bác hai điều cần, kiệm”.
- Tại phòng khám thanh niên Bệnh viện Q.10 (TP.HCM), bác sĩ không chỉ tận tình khám bệnh mà còn luôn lắng nghe, tư vấn cho bệnh nhân vì “bác dạy rằng “Cán bộ, nhân viên y tế cả nước phải thương yêu, chăm sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn, lương y phải như từ mẫu”.
- Một cán bộ trẻ là trưởng phòng quản lý thành công vì luôn áp dụng lời Bác dạy: “Nói phải đi đôi với làm”.
Thiệt tình, viên chức Nhà Nước ăn lương từ thuế nhân dân mà không đúng hẹn với dân thì dân nó không kiện cho à! Hay ông trưởng phòng gì đấy không làm tốt thì Giám đốc nó giũa cho một trận chứ đùa sao!
Tuy nhiên, mặc dù vớ vẩn nhưng các điển hình trên dù sao cũng “làm một việc tốt gì đó vì Bác dạy thế”. Đằng này, có một điển hình “Theo Gương Bác”, làm theo lời bác bằng cách xây nhà thờ cho bác(!).
Chuyện người yêu nước đi biểu tình, nó vừa hợp hiến, vừa hợp đạo thì bị coi là trò lố. Trong khi chuyện trị nước, chuyện kinh bang tế thế, chuyện an sinh xã hội, chuyện quốc gia đại sự thì quản lý bằng những trò lố. Thời buổi toàn đồ đểu.
Bùi Tính (viết từ Nghệ An)
__________________________
(*) Thật ra thì khẩu hiệu “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” cũng treo đầy đường. Nhưng từ thằng to nhất đến thằng bé nhất, chẳng ai theo cả.
Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011
Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011
Thư ngỏ của ông Lê Hiếu Đằng gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam
My Blog: Ông Lê Hiếu Đằng, như ông tự giới thiệu các chức vụ ông từng kinh qua trước đây, đặc biệt khi biết ông từng là đồng đội của ông Trương Tấn Sang thì có thể thấy ông cũng là một ông quan cộng sản thuộc hàng VIP cỡ nào. Mình nói ông VIP vì chắc khi ông còn đương chức nếu có thuộc dạng "thét ra lửa" đối với đồng chí của mình thì cũng không có gì là lạ. Tuy nhiên, theo tôi hiểu chắc ông không làm thế. Ông vẫn có một niềm tin sâu sắc rằng: dù làm cán bộ trong chiến tranh hay lãnh đạo trong thời kỳ hoà bình thì ông cũng luôn mong xã hội nhất định sẽ tốt đẹp hơn. Bởi vậy, dù khi đương chức ông vẫn cố nhẫn nại lấy bản thân mình làm gương, hoặc có khi nhỏ to khuyên nhủ "mấy đứa nhỏ bạn" (chúng nó bây giờ đứa từng làm Bí thư, Chủ tịch thành phố, đứa làm nên đến chức Chủ tịch nước...)nếu thấy chúng nó có biểu hiện "xa rời quần chúng" căn bệnh mà ông vốn thấm thía ngay khi còn là chiến sĩ biệt động nằm vùng. Tuy nhiên, mọi cố gắng của ông hình như đều vô vọng, cán bộ ngày càng hư hỏng, xã hội ngày càng xấu đi trong mắt ông... Rồi ông thất vọng, ông lại tiếp tục kiên trì... rồi lại thất vọng. Có lúc ông đã tỏ thái độ của mình, nhưng đáp lại thái độ chân thành của mình là sự thờ ơ, sự vô cảm của những người đồng đội, đồng chí của mình trước đây trước sự tiêu cực, những rạn nứt trong các quan hệ xã hội. Có lẽ ông đã thử hết cách rồi và bức thư ngỏ này là cách cuối cùng để ông chuyển thông điệp về những trăn trở của ông đến ông Trương Tấn Sang (qua đó cũng là các nhà lãnh đạo Việt Nam)chăng? Nhưng mình tin rằng, cũng như bao bức thơ ngỏ khác, những bức thư ngỏ như thế này chắc lại rơi vào im lặng, không thấy ai phản hồi.. nhưng rồi một lúc nào đó lại thấy công an, tổ dân phố, hội cựu chiến binh... kéo đến nhà bác Hiếu Đằng. Bác Đằng đừng run sợ nhé. Bác hãy làm những gì mà mình cho là đúng để cho lớp cháu con còn có cơ hội để nhờ. Amen!
Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
_____________
THƯ NGỎ
Kính gửi :
- Ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước CHXHCN VN.
- Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí Thư BCH TW ĐCS VN.
- Ông Nguyễn Sinh Hùng – Chủ Tịch Quốc Hội nước CHXHCN VN.
- Ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ Tướng Chính phủ nước CHXHCN VN.
Thưa các vị ,
Tôi là LÊ HIẾU ĐẰNG, công dân đang thường trú tại Quận 10 TP.HCM viết thư ngỏ này để đề nghị các vị với tư cách những nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước, của Đảng làm sáng tỏ hai sự việc đã xảy ra trong thời gian gần đây mà xét đến cùng các vị cũng có phần trách nhiệm, nếu không nói là có trách nhiệm cao nhất.
Hai sự việc đó là :
1) Chủ trương cấm các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa chống bành trướng Trung Quốc của một bộ phận nhân sĩ, trí thức, nhân dân Thủ đô Hà Nội và sau đó là hành động bắt bớ, đàn áp những người biểu tình, dùng các phương tiện truyền thông, báo chí của Nhà nước phát những tin tức, hình ảnh lập lờ cố tình bôi xấu, chụp mũ “phản động” đối với một số nhân sĩ, trí thức, nhà văn mà nhân cách, uy tín và quá trình đấu tranh vì nền độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam không ai có thể phủ nhận được.
Việc làm nêu trên hoàn toàn đi ngược lại khuyến cáo đầy thiện chí của các nhân sĩ, trí thức, trong đó có nhiều nhân sĩ trí thức văn nghệ sĩ ở Hà Nội và đông đảo anh chị em trong phong trào đấu tranh của sinh viên Sài Gòn trước 1975 trong Tuyên Cáo ngày 25/6/2011, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của một số nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ và một bộ phận nhâ dân Thủ đô Hà Nội đã từng tham dự các cuộc tuần hành, biểu tình yêu nước liên tiếp chống hành động bành trướng của Trung Quốc trong các buổi sáng Chủ nhật vừa qua.
2) Trong vòng đối thoại thường niên về quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc gần đây, ông Nguyễn Chí Vịnh – thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước CHXHCN VN đã có những phát biểu mà nhiều người, trong đó có tôi và những người đã từng đấu tranh trong phong trào ở các thành thị Miền Nam trước 1975, cho rằng vượt thẩm quyền của một thứ trưởng Quốc phòng. Nội dung gây phẫn nộ trong những nhân sĩ, trí thức và đông đảo nhân dân là việc ông Vịnh đã thông báo cho phía Trung Quốc “Chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn” . Ông Vịnh nhân danh ai, nhân danh cái gì mà đã hạ mình để làm vui lòng nhà cầm quyền Trung Quốc khi thông báo và hứa với Trung Quốc như vậy. Việc nhân dân VN biểu tình chống lại hành động bành trướng xâm lược có hệ thống của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và thái độ của nhà nước VN hoàn toàn là chuyện nội bộ của một nước có chủ quyền. Ông Nguyễn Chí Vịnh lấy quyền gì mà cam kết một cách nhục nhã với nhà cầm quyền Trung Quốc như vậy? Các vị với tư cách những nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước VN, của Đảng Công Sản VN có ủy quyền cho ông Vịnh nói với Trung Quốc nội dung trên hay không? Hành động và lời nói của ông Vịnh đã xúc phạm nghiêm trọng đến lòng tự tôn và danh dự của cả môt dân tộc đã có một quá trình chống ngoại xâm vô cùng hiển hách.
Thưa các vị ,
Tôi nêu hai sự việc trên để các vị với tư cách những nhà lãnh đạo cao nhất của nhà nước và của Đảng, hơn nữa các vị đều là đại biểu của Quốc Hội, làm rõ trước công luận :
- Hai sự việc nêu trên xảy ra gần đây có phải là chủ trương chính thức của Nhà nước VN, của Đảng Cộng Sản VN hay không ?
- Nếu đây không phải là chủ trương chính thức của Nhà nước VN, của Đảng Cộng Sản VN thì các vị có biện pháp gì để kiểm điểm trách nhiệm đi đến xử lí, kỉ luật các cán bộ thuộc quyền đã có những hành động lạm quyền, vượt quyền, nếu không nói là lộng quyền như trên hay không ? Hay nói theo cách nói tế nhị của giáo sư Ngô Bảo Châu khi phê phán phiên tòa sơ thẩm xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là “Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này ”
Tôi với tư cách công dân, với tư cách một cử tri của Sài Gòn – TP.HCM dùng quyền chất vấn của mình để các vị làm rõ trước công luận hai sự việc nêu trên vì tôi quan niệm rằng trong một chế độ chính trị độc Đảng nếu Nhà nước không tự nghiêm khắc với chính mình thì hiện tượng lạm quyền, lộng quyền của những cán bộ có chức quyền sẽ làm trầm trọng thêm tệ quan liêu, tham nhũng, chuyên quyền, vi phạm nghiêm trọng đến lợi ích và các quyền công dân, chà đạp lên luật pháp, đe dọa sự tồn vong của dân tộc, của đất nước.
Qua thư ngỏ này, tôi tin tưởng rằng với trách nhiệm của mình, các vị sẽ có những biện pháp đấu tranh và ngăn chặn có hiệu quả để tránh nhửng sự việc đáng tiếc như đã xảy ra trong thời gian gần đây, để VN thân yêu của chúng ta hòa mình thật sự vào dòng chảy tự do, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội hiện nay trên Thế giới ./.
Trân trọng,
TP.HCM, ngày 06 tháng 9 năm 2011 Kí tên ,
LÊ HIẾU ĐẰNG
- Nguyên Phó Tổng thư kí Uỷ Ban TW Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình VN (1968-1977);
- Nguyên Tổng thư kí Uỷ Ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định ( 1969-1975);
- Nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc VN TP.HCM (1989-2009);
- Đại biểu Hội đồng Nhân dân TP.HCM Khóa 4,5.
Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
_____________
THƯ NGỎ
Kính gửi :
- Ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước CHXHCN VN.
- Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí Thư BCH TW ĐCS VN.
- Ông Nguyễn Sinh Hùng – Chủ Tịch Quốc Hội nước CHXHCN VN.
- Ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ Tướng Chính phủ nước CHXHCN VN.
Thưa các vị ,
Tôi là LÊ HIẾU ĐẰNG, công dân đang thường trú tại Quận 10 TP.HCM viết thư ngỏ này để đề nghị các vị với tư cách những nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước, của Đảng làm sáng tỏ hai sự việc đã xảy ra trong thời gian gần đây mà xét đến cùng các vị cũng có phần trách nhiệm, nếu không nói là có trách nhiệm cao nhất.
Hai sự việc đó là :
1) Chủ trương cấm các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa chống bành trướng Trung Quốc của một bộ phận nhân sĩ, trí thức, nhân dân Thủ đô Hà Nội và sau đó là hành động bắt bớ, đàn áp những người biểu tình, dùng các phương tiện truyền thông, báo chí của Nhà nước phát những tin tức, hình ảnh lập lờ cố tình bôi xấu, chụp mũ “phản động” đối với một số nhân sĩ, trí thức, nhà văn mà nhân cách, uy tín và quá trình đấu tranh vì nền độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam không ai có thể phủ nhận được.
Việc làm nêu trên hoàn toàn đi ngược lại khuyến cáo đầy thiện chí của các nhân sĩ, trí thức, trong đó có nhiều nhân sĩ trí thức văn nghệ sĩ ở Hà Nội và đông đảo anh chị em trong phong trào đấu tranh của sinh viên Sài Gòn trước 1975 trong Tuyên Cáo ngày 25/6/2011, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của một số nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ và một bộ phận nhâ dân Thủ đô Hà Nội đã từng tham dự các cuộc tuần hành, biểu tình yêu nước liên tiếp chống hành động bành trướng của Trung Quốc trong các buổi sáng Chủ nhật vừa qua.
2) Trong vòng đối thoại thường niên về quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc gần đây, ông Nguyễn Chí Vịnh – thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước CHXHCN VN đã có những phát biểu mà nhiều người, trong đó có tôi và những người đã từng đấu tranh trong phong trào ở các thành thị Miền Nam trước 1975, cho rằng vượt thẩm quyền của một thứ trưởng Quốc phòng. Nội dung gây phẫn nộ trong những nhân sĩ, trí thức và đông đảo nhân dân là việc ông Vịnh đã thông báo cho phía Trung Quốc “Chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn” . Ông Vịnh nhân danh ai, nhân danh cái gì mà đã hạ mình để làm vui lòng nhà cầm quyền Trung Quốc khi thông báo và hứa với Trung Quốc như vậy. Việc nhân dân VN biểu tình chống lại hành động bành trướng xâm lược có hệ thống của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và thái độ của nhà nước VN hoàn toàn là chuyện nội bộ của một nước có chủ quyền. Ông Nguyễn Chí Vịnh lấy quyền gì mà cam kết một cách nhục nhã với nhà cầm quyền Trung Quốc như vậy? Các vị với tư cách những nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước VN, của Đảng Công Sản VN có ủy quyền cho ông Vịnh nói với Trung Quốc nội dung trên hay không? Hành động và lời nói của ông Vịnh đã xúc phạm nghiêm trọng đến lòng tự tôn và danh dự của cả môt dân tộc đã có một quá trình chống ngoại xâm vô cùng hiển hách.
Thưa các vị ,
Tôi nêu hai sự việc trên để các vị với tư cách những nhà lãnh đạo cao nhất của nhà nước và của Đảng, hơn nữa các vị đều là đại biểu của Quốc Hội, làm rõ trước công luận :
- Hai sự việc nêu trên xảy ra gần đây có phải là chủ trương chính thức của Nhà nước VN, của Đảng Cộng Sản VN hay không ?
- Nếu đây không phải là chủ trương chính thức của Nhà nước VN, của Đảng Cộng Sản VN thì các vị có biện pháp gì để kiểm điểm trách nhiệm đi đến xử lí, kỉ luật các cán bộ thuộc quyền đã có những hành động lạm quyền, vượt quyền, nếu không nói là lộng quyền như trên hay không ? Hay nói theo cách nói tế nhị của giáo sư Ngô Bảo Châu khi phê phán phiên tòa sơ thẩm xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là “Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này ”
Tôi với tư cách công dân, với tư cách một cử tri của Sài Gòn – TP.HCM dùng quyền chất vấn của mình để các vị làm rõ trước công luận hai sự việc nêu trên vì tôi quan niệm rằng trong một chế độ chính trị độc Đảng nếu Nhà nước không tự nghiêm khắc với chính mình thì hiện tượng lạm quyền, lộng quyền của những cán bộ có chức quyền sẽ làm trầm trọng thêm tệ quan liêu, tham nhũng, chuyên quyền, vi phạm nghiêm trọng đến lợi ích và các quyền công dân, chà đạp lên luật pháp, đe dọa sự tồn vong của dân tộc, của đất nước.
Qua thư ngỏ này, tôi tin tưởng rằng với trách nhiệm của mình, các vị sẽ có những biện pháp đấu tranh và ngăn chặn có hiệu quả để tránh nhửng sự việc đáng tiếc như đã xảy ra trong thời gian gần đây, để VN thân yêu của chúng ta hòa mình thật sự vào dòng chảy tự do, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội hiện nay trên Thế giới ./.
Trân trọng,
TP.HCM, ngày 06 tháng 9 năm 2011 Kí tên ,
LÊ HIẾU ĐẰNG
- Nguyên Phó Tổng thư kí Uỷ Ban TW Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình VN (1968-1977);
- Nguyên Tổng thư kí Uỷ Ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định ( 1969-1975);
- Nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc VN TP.HCM (1989-2009);
- Đại biểu Hội đồng Nhân dân TP.HCM Khóa 4,5.
Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011
CSGT - cướp giữa ban ngày.
My blog: Đối với cánh lái xe dù chuyên nghiệp hay nghiệp dư thì một trong những nỗi sợ nhất khi lưu thông trên đường là gặp phải cảnh sát giao thông (CSGT). Mình là người có bằng lái xe gần 3 năm nay, tay lái cũng không đến nỗi nào, luật lái xe cũng thuộc gần hết. Nhưng nếu cầm vô lăng trên đường thì mới thấy, bằng lái xe hạng ưu thì cũng là số dách khi bị CSGT "chỉ gậy" về phía bạn.
Lý do bị CSGT chỉ gậy có nhiều nhưng chủ yếu là bạn bị cài bẫy về luật lệ (chủ yếu là các quy định dưới luật như nghị định, quyết định, thông tư... có liên quan đến an toàn giao thông). Chẳng hạn, cách đây 3 tháng mình bị phạt 800.000 đồng (đáng ra chỉ mất 500.000 đ thôi nếu nhanh tay hối lộ trước khi họ ghi biên bản) và bị giữ bằng lái xe 01 tháng vì đã vô tình đỗ ô tô chưa sát mép đường nhỏ hơn 25 xăng ti mét theo cái nghị định mả mẹ gì mà cái thằng cha CSGT bụng phệ, mắt ti hí, mặt sần sùi đen sì đọc cho tôi ghe sau khi đã giữ toàn bộ giấy tờ của tôi (Sau đó tôi mới biết là cái nghị định đó mới ban hành trước đó ít lâu mà tôi - dân lái xe nghiệp dư không hề để ý). Nói chung, bình quân mỗi năm một tài xế lái xe phải nộp cho CSGT khá nhiều tiền vì các lý do vi phạm lãng xẹt như vậy. Tuy vậy, đọc phóng sự dưới đây của phóng viên báo Tuổi trẻ online thì mới thấy hết mức độ kinh hoàng của cánh lái xe, nhất là cánh lái xe đường dài khi lưu thông trên đường mỗi khi phải đối mặt với CSGT. Cái bọn chỉ biết còn đảng, còn mình này thực chất là một lũ cướp ngày của chế độ.
Nhức nhối nạn mãi lộ: Ghê hơn cướp cạn!
TT - Cánh tài xế đường dài ai cũng ngán ngại khi nhắc đến một số chốt CSGT ở miền Trung. Ngoài việc “ăn dày” hơn những nơi khác, những chốt CSGT này luôn bị giới tài xế than thở về cách hành xử thiếu thiện cảm với người vi phạm.
Viên CSGT đi xe tuần tra 73B-1627 chốt chặn tại km630 Bố Trạch, Quảng Bình chặn xe 79D11... vi phạm tốc độ, lấn tuyến rồi ra giá 400.000 đồng sẽ bỏ qua lỗi vi phạm (ảnh chụp lúc 15g40 ngày 25-7) - Ảnh: H.K.
Một CSGT thuộc chốt đầu ngoài đường tránh TP Huế (Thừa Thiên - Huế) nhận 300.000 đồng của tài xế xe 47P12... để bỏ qua lỗi vi phạm chở quá tải, sai lốp vào lúc 4g20 ngày 31-7 - Ảnh: Hoàng Khương chụp từ camera
20g ngày 31-7, chúng tôi lên chiếc xe chở gỗ đi từ Đắk Lắk ra Hà Nội. Đến km507 quốc lộ 1A, xã Tùng Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa gặp xe tuần tra 36B-1237 đang đậu cạnh cây xăng Tùng Lâm. Hai CSGT thay nhau chặn xe hai chiều để “thu phí”. Bên trong mái hiên có một chiếc bàn, ấm trà, một CSGT còn khá trẻ ngồi cạnh cái cặp căng phồng.
Không có 5 “củ”, cầm lại giấy tờ
Vừa giáp mặt tài xế, một CSGT cầm gậy chỉ lên thùng xe hỏi ngay “chở gì?”. Nghe tài xế nói “gỗ mít”, viên CSGT soi đèn pin kiểm tra. Tiếp đó, một người đàn ông luống tuổi (sau này chúng tôi mới biết tên Nguyễn Văn Đôi) cầm đèn pin leo lên soi rọi kỹ từng hộp gỗ.
Thấy khó “qua ải”, tài xế tên Tình (48 tuổi) kẹp hai “xị” (200.000 đồng) vào sổ đưa cho CSGT tên Hải đang ngồi trong nhà. Anh này mở sổ xem rồi quát: “Mày làm 200 á?”. Đúng lúc đó ông Đôi vào nói: “Gõ chứ mít gì” rồi quay qua tài xế: “Trong tụi mày gọi đây là mít á?”. CSGT Hải lạnh lùng: “Năm củ”. Anh Tình điếng người: “Năm củ là bao nhiêu?”. Giọng Hải rành rọt: “5 triệu ấy, nghe không rõ à?”. Anh Tình than thở: “5 triệu làm gì bọn em có”. Hải hù dọa: “Bây giờ muốn hô 5 hay muốn hô hơn nữa”? Tài xế phân bua: “Ý em muốn sếp bớt tí”. Hải vẫn không tha: “Năm củ là vừa nhất”. Tình mếu máo: “Năm củ thì còn gì tụi em sống, hóa đơn kiểm lâm phạt 20 triệu đồng đây nè”. Hải gằn giọng: “Mày mới chỉ bị hạt kiểm lâm phạt thôi. Mày đã được chi cục phạt chưa? Nếu thích tao đưa mày sang chi cục làm vụ điển hình luôn nhá”.
Tài xế móc hết các túi còn đúng 1,1 triệu đồng. Hải nói: “Thôi được, còn một cách nữa. Đợi tao ăn cơm rồi đưa xe về giao kiểm lâm, coi như hoàn thành nhiệm vụ”.
Anh Tình trở ra xe gom giấy đăng ký xe, bằng lái quay lại chốt CSGT xin “cắm”. Chưa kịp mở miệng, Hải nạt: “Hoàn cảnh cũng đã trình bày rồi, không nói thêm”. Tình nhỏ nhẹ: “Năm chai em chịu, anh cho em gửi lại giấy đăng ký, bằng lái, sáng mai vào sớm chuộc lại đầy đủ”. Hải nói: “Lấy năm chai là quá nhẹ rồi” và hướng dẫn vào gặp ông Đôi. Đôi quay sang Tình: “Cắm là lấy lãi 500.000 đồng/ngày, nhưng ngày mai có chưa?”.
Nói rồi ông Đôi chìa ra một tờ giấy và đọc nội dung vay tiền cho Tình viết. Để tạo lòng tin, Hải cho anh Tình số điện thoại để mỗi lần qua chốt “dễ nói chuyện”. Hải nói: “Ở đây chỉ có mình tao biết thôi, lần sau ra thì cứ làm (luật) bình thường”. Hỏi nếu ca khác thì sao, Hải hạ giọng: “Làm một thôi” (làm 1 triệu thôi). Hỏi trong đội có mấy Hải, anh này nói: “Ba, tao là trẻ nhất”.
21g30, xe chúng tôi tiếp tục đụng chốt CSGT thứ hai của Thanh Hóa đang chặn xe hai chiều tại Hà Trung, Thanh Hóa (còn gọi chốt ngoài). Một viên CSGT không đeo bảng tên đứng cạnh xe tuần tra 36B-1256 giở sổ kiểm tra thấy tờ 100.000 đồng càu nhàu: “Cả xe gỗ làm trăm bạc là cái gì?”. Bực mình vì vừa bị “xắt” quá đau, Tình xổ một tràng: “Anh Hải nhỏ ở đầu trong dặn ra ngoài này làm nhẹ thôi, anh Hải đã lấy năm “củ” rồi”. Tay CSGT trố mắt: “Năm trăm hay năm triệu?”. Tình đáp: “5 triệu, không thiếu một cắc”.
Thấy tay CSGT bán tín bán nghi, Tình nói: “Không tin anh gọi cho Hải đi, số điện thoại tứ quý tám đó”. Tay CSGT móc điện thoại gọi: “Mi hốt hết trong đó, để anh em tao kiếm tí chứ mi. Xe gỗ này mày mới làm 5 triệu chứ gì. M... mi, hắn làm bao nhiêu thì hắn làm chứ mi nói hắn ra đây không phải làm, cái loại mi... Bố tiên sư”. Chửi xong, CSGT miễn cưỡng lấy tờ 100.000 rồi cho đi.
“Hãy đợi đấy!”
Sau khi bỏ hàng xuống làng mộc Đông Anh (Hà Nội), chiều 1-8 tài xế Tình gọi điện cho Hải báo “hôm qua nợ tiền “làm luật”, phải cắm lại giấy tờ, hôm nay vào chuộc lại”. Hải nói: “Hôm nay nghỉ ca rồi, cứ gặp cái ông hôm qua ấy”. Tài xế cù nhầy: “Anh có bớt cho em chút xíu không?”, Hải nói: “Sao hôm qua không nói luôn đi để hôm nay lằng nhà lằng nhằng, cả tổ hôm qua đó, để hôm sau gặp nói chuyện sau”.
21g ngày 1-8, chúng tôi cùng Tình trở lại địa điểm hôm trước. Vẫn chiếc xe tuần tra 36B 1237 đậu sát hông nhà, ngoài đường hai CSGT đang chặn xe, bên trong một CSGT ngồi ở bàn. Thấy tài xế Tình và lơ xe xăm xăm bước vào nhà, một CSGT chặn lại: “Vào đây làm gì?”. Tình nói sự tình, một viên CSGT ra vẻ thông cảm: “Gì mà 5 triệu dữ vậy, xe gỗ qua đây làm 4-5 lít (400.000-500.000 đồng) chứ mấy”.
10 phút sau ông Đôi đội mũ cối đi ra. Anh Tình nhăn nhó: “Anh gọi điện cho Hải bớt chút đỉnh chứ lấy 5,5 triệu nhiều quá”. Đôi lầm bầm: “Tôi biết gì mà bớt”. Tình vặn: “Anh có quyền gì mà hôm qua anh leo lên xe tôi kiểm tra?”. Ông Đôi không vừa: “Tụi mày đừng giở trò nha. Tao soi (gỗ trên xe) mày làm gì được tao. Mày thích giở trò không? Tao đập mày ngay bây giờ. Hôm qua mày đồng ý chung cho thằng nào mà bây giờ trách tao?”. Thấy yếu thế, anh Tình móc túi đếm đủ 5,5 triệu đồng đưa cho ông Đôi và đòi lại giấy chế chấp.
Ông Đôi lầm bầm: “Xong rồi thì xé”. Tình quyết tâm: “Không có giấy là không đi”. Lúc này ông Đôi không còn giữ được bình tĩnh: “Mày thích không, tao đánh chết mẹ mày nhá”. Tình nhảy loi choi ra đường, miệng la lớn: “Trời ơi, làm gì mà một ngày lấy lãi tới 500.000 đồng”. Ông Đôi hung tợn: “ĐM, tao đập một cái nát mặt mày bây giờ, cái loại chó nhà mày”. Vừa dứt câu, ông Đôi nhào đến đánh vào lưng, đầu, giật rách áo anh Tình. Nhóm CSGT bình thản đứng nhìn chẳng có động thái gì.
Lên xe, Tình gọi điện méc Hải: “Ông Đôi vừa lấy tiền vừa đánh tụi tui nè”. Hải nói: “Tao đã nói mày rồi, mày còn đi, còn làm ăn, mày tự giác chứ nói gì”. Tình nói: “Tự giác cái gì, ông đòi tôi 5 triệu, tôi hết tiền phải cầm lại giấy tờ, thêm 500.000 đồng lãi nữa”. Hải cự lại: “Mẹ mày. Mày tự nguyện mà còn nói”. Tình nổi nóng: “Ông đòi tôi năm củ, bắt tôi phải thế chấp giấy tờ 5 triệu thành 5,5 triệu mà tự nguyện cái gì”. Hải gằn giọng: “Mày hãy đợi đấy!” rồi tắt máy.
“Không làm một chai ba là chết mi”
Sau chuyến đi “để đời” trên, chúng tôi nhiều lần trở lại Thanh Hóa trên nhiều chuyến xe khác nhau. Đúng như phản ảnh của tài xế, hầu hết các chốt CSGT ở Thanh Hóa đều “ăn dày” hơn các nơi khác. Đặc biệt, cung cách hành xử của CSGT với tài xế cũng không giống ai.
0g ngày 3-8, chúng tôi lên chiếc xe chở sắt cồng kềnh, quá tải từ Hà Nội vào TP.HCM. Đến km305 Hà Trung, Thanh Hóa, xe chúng tôi gặp lại chốt CSGT đi xe tuần tra 36B-1256. Mở sổ thấy tờ 50.000 đồng tài xế đưa, tay CSGT (không đeo bảng tên) lạnh lùng: “Không nói nhiều, làm đủ rồi đi, còn không thì đứng đó”.
Tiếp đó, 16g ngày 11-8, chúng tôi theo xe chở gỗ từ Tây nguyên đến Bình Định, ra Hà Nội. Tại km380, quốc lộ 1A, Trường Lâm, Tĩnh Gia, xe chúng tôi bị chốt CSGT thổi vào. CSGT tên Nguyễn Như Sáng đứng cạnh xe tuần tra 36B-1237 hỏi: “Chở gì đây?”. Tài xế đáp: “Gỗ chiêu liêu”. Ông Sáng ra giá: “1,2 triệu”. Tài xế xin bớt mấy đồng ăn cơm, ông Sáng: “Tao tát cho cái bây giờ, đúng 1,2 triệu chứ không bớt được đâu”. Kỳ kèo mãi, ông Sáng mới chịu “cho 100 ăn sáng”. Xong tài xế hỏi: “Chuyến sau có lô gõ làm luật bao nhiêu?’’. Ông Sáng: “Đúng 1,2 triệu, như chiêu liêu”.
Do bị kiểm lâm Thanh Hóa giữ xe gần một ngày, đến 17g20 ngày 12-8 xe chúng tôi đến địa phận Đại Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa (chốt đầu ngoài). Đến km305, xe chúng tôi bị chốt CSGT đi xe tuần tra 36B-1256 chặn lại. Nghe tài xế nói “gỗ chiêu liêu”, CSGT tên Trần Nhật Quỳnh mở sổ thấy 200.000 đồng nói: “Chiêu liêu mà làm như thế này?”. Tài xế than đầu trong đã chung 1,3 triệu đồng rồi, ra đây 200 là được. Ông Quỳnh tức giận: “Đừng có phét. Lần sau gặp tao ở đầu trong mi không làm 1 chai 3 là chết mi”.
Trước đó lúc 22g45 ngày 29-7, chúng tôi theo xe chở trái cây từ miền Trung ra Hà Nội. Đến chốt CSGT tại Tùng Lâm (xe tuần tra 36B-1237), xe chúng tôi bị thổi vào cùng bốn chiếc xe tải khác. Đón tờ giấy từ tay tài xế đưa có kẹp tờ 50.000 đồng, CSGT không đeo bảng tên vặn: “Chưa chở trái cây bao giờ hả?”. Tài xế lí nhí: “Làm bao nhiêu vậy sếp?”. CSGT ngắn gọn: “Một lô”. Tài xế hỏi lại: “Một lô là bao nhiêu vậy sếp?”, CSGT quát: “Làm một trăm”. Những chiếc xe khác bị thổi vào cũng cùng chung số phận...
HOÀNG KHƯƠNG
Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/454423/Nhuc-nhoi-nan-mai-lo-Ghe-hon-cuop-can.html
Thêm:
Video: Cảnh sát giao thông Long Thành - Đồng Nai "ăn vặt" kiểu mới.
Nguồn: http://www.youtube.com/watch?v=w90u-b3J7Qs&NR=1&feature=fvwp
Xem xong Video này bạn có thấy CSGT giống bọn cướp ngày không?
Lý do bị CSGT chỉ gậy có nhiều nhưng chủ yếu là bạn bị cài bẫy về luật lệ (chủ yếu là các quy định dưới luật như nghị định, quyết định, thông tư... có liên quan đến an toàn giao thông). Chẳng hạn, cách đây 3 tháng mình bị phạt 800.000 đồng (đáng ra chỉ mất 500.000 đ thôi nếu nhanh tay hối lộ trước khi họ ghi biên bản) và bị giữ bằng lái xe 01 tháng vì đã vô tình đỗ ô tô chưa sát mép đường nhỏ hơn 25 xăng ti mét theo cái nghị định mả mẹ gì mà cái thằng cha CSGT bụng phệ, mắt ti hí, mặt sần sùi đen sì đọc cho tôi ghe sau khi đã giữ toàn bộ giấy tờ của tôi (Sau đó tôi mới biết là cái nghị định đó mới ban hành trước đó ít lâu mà tôi - dân lái xe nghiệp dư không hề để ý). Nói chung, bình quân mỗi năm một tài xế lái xe phải nộp cho CSGT khá nhiều tiền vì các lý do vi phạm lãng xẹt như vậy. Tuy vậy, đọc phóng sự dưới đây của phóng viên báo Tuổi trẻ online thì mới thấy hết mức độ kinh hoàng của cánh lái xe, nhất là cánh lái xe đường dài khi lưu thông trên đường mỗi khi phải đối mặt với CSGT. Cái bọn chỉ biết còn đảng, còn mình này thực chất là một lũ cướp ngày của chế độ.
Nhức nhối nạn mãi lộ: Ghê hơn cướp cạn!
TT - Cánh tài xế đường dài ai cũng ngán ngại khi nhắc đến một số chốt CSGT ở miền Trung. Ngoài việc “ăn dày” hơn những nơi khác, những chốt CSGT này luôn bị giới tài xế than thở về cách hành xử thiếu thiện cảm với người vi phạm.
Viên CSGT đi xe tuần tra 73B-1627 chốt chặn tại km630 Bố Trạch, Quảng Bình chặn xe 79D11... vi phạm tốc độ, lấn tuyến rồi ra giá 400.000 đồng sẽ bỏ qua lỗi vi phạm (ảnh chụp lúc 15g40 ngày 25-7) - Ảnh: H.K.
Một CSGT thuộc chốt đầu ngoài đường tránh TP Huế (Thừa Thiên - Huế) nhận 300.000 đồng của tài xế xe 47P12... để bỏ qua lỗi vi phạm chở quá tải, sai lốp vào lúc 4g20 ngày 31-7 - Ảnh: Hoàng Khương chụp từ camera
20g ngày 31-7, chúng tôi lên chiếc xe chở gỗ đi từ Đắk Lắk ra Hà Nội. Đến km507 quốc lộ 1A, xã Tùng Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa gặp xe tuần tra 36B-1237 đang đậu cạnh cây xăng Tùng Lâm. Hai CSGT thay nhau chặn xe hai chiều để “thu phí”. Bên trong mái hiên có một chiếc bàn, ấm trà, một CSGT còn khá trẻ ngồi cạnh cái cặp căng phồng.
Không có 5 “củ”, cầm lại giấy tờ
Vừa giáp mặt tài xế, một CSGT cầm gậy chỉ lên thùng xe hỏi ngay “chở gì?”. Nghe tài xế nói “gỗ mít”, viên CSGT soi đèn pin kiểm tra. Tiếp đó, một người đàn ông luống tuổi (sau này chúng tôi mới biết tên Nguyễn Văn Đôi) cầm đèn pin leo lên soi rọi kỹ từng hộp gỗ.
Thấy khó “qua ải”, tài xế tên Tình (48 tuổi) kẹp hai “xị” (200.000 đồng) vào sổ đưa cho CSGT tên Hải đang ngồi trong nhà. Anh này mở sổ xem rồi quát: “Mày làm 200 á?”. Đúng lúc đó ông Đôi vào nói: “Gõ chứ mít gì” rồi quay qua tài xế: “Trong tụi mày gọi đây là mít á?”. CSGT Hải lạnh lùng: “Năm củ”. Anh Tình điếng người: “Năm củ là bao nhiêu?”. Giọng Hải rành rọt: “5 triệu ấy, nghe không rõ à?”. Anh Tình than thở: “5 triệu làm gì bọn em có”. Hải hù dọa: “Bây giờ muốn hô 5 hay muốn hô hơn nữa”? Tài xế phân bua: “Ý em muốn sếp bớt tí”. Hải vẫn không tha: “Năm củ là vừa nhất”. Tình mếu máo: “Năm củ thì còn gì tụi em sống, hóa đơn kiểm lâm phạt 20 triệu đồng đây nè”. Hải gằn giọng: “Mày mới chỉ bị hạt kiểm lâm phạt thôi. Mày đã được chi cục phạt chưa? Nếu thích tao đưa mày sang chi cục làm vụ điển hình luôn nhá”.
Tài xế móc hết các túi còn đúng 1,1 triệu đồng. Hải nói: “Thôi được, còn một cách nữa. Đợi tao ăn cơm rồi đưa xe về giao kiểm lâm, coi như hoàn thành nhiệm vụ”.
Anh Tình trở ra xe gom giấy đăng ký xe, bằng lái quay lại chốt CSGT xin “cắm”. Chưa kịp mở miệng, Hải nạt: “Hoàn cảnh cũng đã trình bày rồi, không nói thêm”. Tình nhỏ nhẹ: “Năm chai em chịu, anh cho em gửi lại giấy đăng ký, bằng lái, sáng mai vào sớm chuộc lại đầy đủ”. Hải nói: “Lấy năm chai là quá nhẹ rồi” và hướng dẫn vào gặp ông Đôi. Đôi quay sang Tình: “Cắm là lấy lãi 500.000 đồng/ngày, nhưng ngày mai có chưa?”.
Nói rồi ông Đôi chìa ra một tờ giấy và đọc nội dung vay tiền cho Tình viết. Để tạo lòng tin, Hải cho anh Tình số điện thoại để mỗi lần qua chốt “dễ nói chuyện”. Hải nói: “Ở đây chỉ có mình tao biết thôi, lần sau ra thì cứ làm (luật) bình thường”. Hỏi nếu ca khác thì sao, Hải hạ giọng: “Làm một thôi” (làm 1 triệu thôi). Hỏi trong đội có mấy Hải, anh này nói: “Ba, tao là trẻ nhất”.
21g30, xe chúng tôi tiếp tục đụng chốt CSGT thứ hai của Thanh Hóa đang chặn xe hai chiều tại Hà Trung, Thanh Hóa (còn gọi chốt ngoài). Một viên CSGT không đeo bảng tên đứng cạnh xe tuần tra 36B-1256 giở sổ kiểm tra thấy tờ 100.000 đồng càu nhàu: “Cả xe gỗ làm trăm bạc là cái gì?”. Bực mình vì vừa bị “xắt” quá đau, Tình xổ một tràng: “Anh Hải nhỏ ở đầu trong dặn ra ngoài này làm nhẹ thôi, anh Hải đã lấy năm “củ” rồi”. Tay CSGT trố mắt: “Năm trăm hay năm triệu?”. Tình đáp: “5 triệu, không thiếu một cắc”.
Thấy tay CSGT bán tín bán nghi, Tình nói: “Không tin anh gọi cho Hải đi, số điện thoại tứ quý tám đó”. Tay CSGT móc điện thoại gọi: “Mi hốt hết trong đó, để anh em tao kiếm tí chứ mi. Xe gỗ này mày mới làm 5 triệu chứ gì. M... mi, hắn làm bao nhiêu thì hắn làm chứ mi nói hắn ra đây không phải làm, cái loại mi... Bố tiên sư”. Chửi xong, CSGT miễn cưỡng lấy tờ 100.000 rồi cho đi.
“Hãy đợi đấy!”
Sau khi bỏ hàng xuống làng mộc Đông Anh (Hà Nội), chiều 1-8 tài xế Tình gọi điện cho Hải báo “hôm qua nợ tiền “làm luật”, phải cắm lại giấy tờ, hôm nay vào chuộc lại”. Hải nói: “Hôm nay nghỉ ca rồi, cứ gặp cái ông hôm qua ấy”. Tài xế cù nhầy: “Anh có bớt cho em chút xíu không?”, Hải nói: “Sao hôm qua không nói luôn đi để hôm nay lằng nhà lằng nhằng, cả tổ hôm qua đó, để hôm sau gặp nói chuyện sau”.
21g ngày 1-8, chúng tôi cùng Tình trở lại địa điểm hôm trước. Vẫn chiếc xe tuần tra 36B 1237 đậu sát hông nhà, ngoài đường hai CSGT đang chặn xe, bên trong một CSGT ngồi ở bàn. Thấy tài xế Tình và lơ xe xăm xăm bước vào nhà, một CSGT chặn lại: “Vào đây làm gì?”. Tình nói sự tình, một viên CSGT ra vẻ thông cảm: “Gì mà 5 triệu dữ vậy, xe gỗ qua đây làm 4-5 lít (400.000-500.000 đồng) chứ mấy”.
10 phút sau ông Đôi đội mũ cối đi ra. Anh Tình nhăn nhó: “Anh gọi điện cho Hải bớt chút đỉnh chứ lấy 5,5 triệu nhiều quá”. Đôi lầm bầm: “Tôi biết gì mà bớt”. Tình vặn: “Anh có quyền gì mà hôm qua anh leo lên xe tôi kiểm tra?”. Ông Đôi không vừa: “Tụi mày đừng giở trò nha. Tao soi (gỗ trên xe) mày làm gì được tao. Mày thích giở trò không? Tao đập mày ngay bây giờ. Hôm qua mày đồng ý chung cho thằng nào mà bây giờ trách tao?”. Thấy yếu thế, anh Tình móc túi đếm đủ 5,5 triệu đồng đưa cho ông Đôi và đòi lại giấy chế chấp.
Ông Đôi lầm bầm: “Xong rồi thì xé”. Tình quyết tâm: “Không có giấy là không đi”. Lúc này ông Đôi không còn giữ được bình tĩnh: “Mày thích không, tao đánh chết mẹ mày nhá”. Tình nhảy loi choi ra đường, miệng la lớn: “Trời ơi, làm gì mà một ngày lấy lãi tới 500.000 đồng”. Ông Đôi hung tợn: “ĐM, tao đập một cái nát mặt mày bây giờ, cái loại chó nhà mày”. Vừa dứt câu, ông Đôi nhào đến đánh vào lưng, đầu, giật rách áo anh Tình. Nhóm CSGT bình thản đứng nhìn chẳng có động thái gì.
Lên xe, Tình gọi điện méc Hải: “Ông Đôi vừa lấy tiền vừa đánh tụi tui nè”. Hải nói: “Tao đã nói mày rồi, mày còn đi, còn làm ăn, mày tự giác chứ nói gì”. Tình nói: “Tự giác cái gì, ông đòi tôi 5 triệu, tôi hết tiền phải cầm lại giấy tờ, thêm 500.000 đồng lãi nữa”. Hải cự lại: “Mẹ mày. Mày tự nguyện mà còn nói”. Tình nổi nóng: “Ông đòi tôi năm củ, bắt tôi phải thế chấp giấy tờ 5 triệu thành 5,5 triệu mà tự nguyện cái gì”. Hải gằn giọng: “Mày hãy đợi đấy!” rồi tắt máy.
“Không làm một chai ba là chết mi”
Sau chuyến đi “để đời” trên, chúng tôi nhiều lần trở lại Thanh Hóa trên nhiều chuyến xe khác nhau. Đúng như phản ảnh của tài xế, hầu hết các chốt CSGT ở Thanh Hóa đều “ăn dày” hơn các nơi khác. Đặc biệt, cung cách hành xử của CSGT với tài xế cũng không giống ai.
0g ngày 3-8, chúng tôi lên chiếc xe chở sắt cồng kềnh, quá tải từ Hà Nội vào TP.HCM. Đến km305 Hà Trung, Thanh Hóa, xe chúng tôi gặp lại chốt CSGT đi xe tuần tra 36B-1256. Mở sổ thấy tờ 50.000 đồng tài xế đưa, tay CSGT (không đeo bảng tên) lạnh lùng: “Không nói nhiều, làm đủ rồi đi, còn không thì đứng đó”.
Tiếp đó, 16g ngày 11-8, chúng tôi theo xe chở gỗ từ Tây nguyên đến Bình Định, ra Hà Nội. Tại km380, quốc lộ 1A, Trường Lâm, Tĩnh Gia, xe chúng tôi bị chốt CSGT thổi vào. CSGT tên Nguyễn Như Sáng đứng cạnh xe tuần tra 36B-1237 hỏi: “Chở gì đây?”. Tài xế đáp: “Gỗ chiêu liêu”. Ông Sáng ra giá: “1,2 triệu”. Tài xế xin bớt mấy đồng ăn cơm, ông Sáng: “Tao tát cho cái bây giờ, đúng 1,2 triệu chứ không bớt được đâu”. Kỳ kèo mãi, ông Sáng mới chịu “cho 100 ăn sáng”. Xong tài xế hỏi: “Chuyến sau có lô gõ làm luật bao nhiêu?’’. Ông Sáng: “Đúng 1,2 triệu, như chiêu liêu”.
Do bị kiểm lâm Thanh Hóa giữ xe gần một ngày, đến 17g20 ngày 12-8 xe chúng tôi đến địa phận Đại Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa (chốt đầu ngoài). Đến km305, xe chúng tôi bị chốt CSGT đi xe tuần tra 36B-1256 chặn lại. Nghe tài xế nói “gỗ chiêu liêu”, CSGT tên Trần Nhật Quỳnh mở sổ thấy 200.000 đồng nói: “Chiêu liêu mà làm như thế này?”. Tài xế than đầu trong đã chung 1,3 triệu đồng rồi, ra đây 200 là được. Ông Quỳnh tức giận: “Đừng có phét. Lần sau gặp tao ở đầu trong mi không làm 1 chai 3 là chết mi”.
Trước đó lúc 22g45 ngày 29-7, chúng tôi theo xe chở trái cây từ miền Trung ra Hà Nội. Đến chốt CSGT tại Tùng Lâm (xe tuần tra 36B-1237), xe chúng tôi bị thổi vào cùng bốn chiếc xe tải khác. Đón tờ giấy từ tay tài xế đưa có kẹp tờ 50.000 đồng, CSGT không đeo bảng tên vặn: “Chưa chở trái cây bao giờ hả?”. Tài xế lí nhí: “Làm bao nhiêu vậy sếp?”. CSGT ngắn gọn: “Một lô”. Tài xế hỏi lại: “Một lô là bao nhiêu vậy sếp?”, CSGT quát: “Làm một trăm”. Những chiếc xe khác bị thổi vào cũng cùng chung số phận...
HOÀNG KHƯƠNG
Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/454423/Nhuc-nhoi-nan-mai-lo-Ghe-hon-cuop-can.html
Thêm:
Video: Cảnh sát giao thông Long Thành - Đồng Nai "ăn vặt" kiểu mới.
Nguồn: http://www.youtube.com/watch?v=w90u-b3J7Qs&NR=1&feature=fvwp
Xem xong Video này bạn có thấy CSGT giống bọn cướp ngày không?
Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011
Vì nó vốn thế!
My Blog: Trong bài viết đăng trên blog của mình, nhân chuyến sang Pháp (công tác hay du lịch gì đấy), nhà văn Thùy Linh đã nêu lên các cảm xúc của mình khi chứng kiến các nghịch cảnh của các quốc gia khác nhau từ Nga, đến Pháp và so sánh với thực tế của Việt Nam và cuối cùng nhà văn đặt ra câu hỏi: Tại sao lại thế? Câu hỏi này dường như được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần ở cuối bài viết để minh chứng cho sự bế tắc trong sự luận giải so sánh giữa các sự kiện mà tác giả chứng kiến. Có lẽ đó chỉ là câu hỏi chưa có câu trả lời cuối cùng thôi, còn bản thân tác giả cũng đã có câu trả lời rồi. Còn tôi, tôi xin trả lời câu hỏi "Tại sao lại thế?" của nhà văn Thùy Linh: Tại sao ư? Nếu hỏi như thế ở Việt Nam này thì có mà hỏi suốt ngày. Vì nó vốn thế mà!
Tuy nhiên tôi thích nhất là đoạn này: "Cũng chuyện cháu gái mình đang sống và làm việc ở Pháp, rất nhỏ thôi nhưng mình không thể không nghĩ ngợi. Cháu có bầu hơn tháng. Đi khám và được kê toa thuốc miễn phí. Bác sỹ thấy nó có vẻ mệt mỏi và yếu nên bắt nghỉ làm một tuần. Kiểm tra thường xuyên nhá. Ba tháng đầu mỗi tháng được nghỉ thêm một ngày ngoài những ngày cuối tuần. Từ những tháng sau được nghỉ thêm 2 ngày. Đẻ đái chả lo nghĩ. Nhẹ tênh. Nếu đẻ đứa thứ 3 thì không phải đóng thuế. Chỉ cần ra trường có việc làm là cuộc sống được bảo đảm. Có thể mua ô tô, nhà cửa theo kiểu trả góp trong vài chục năm. Ở Pháp đưa vào điều luật con cái phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ chứ không thể chỉ trông vào tình cảm, nghĩa vụ chung chung để bảo đảm tình huống xấu nhất. Còn cha mẹ có nhận sự trợ giúp của con cái hay không là chuyện tự họ. Không có cảnh con cái đùn đẩy, đánh chửi nhau về chuyện nuôi cha mẹ già. Nhưng ngoài cuộc sống, tình cảm của cha mẹ và con cái rất tự nhiên, không ép nhau vào trách nhiệm, nghĩa vụ. Không mè nheo, trách móc, đòi hỏi…lẫn nhau. Vừa đủ quan tâm để mỗi người cảm thấy sự ấm áp của tình thân, còn vẫn có tự do và cuộc sống riêng, không ai xâm phạm đến. Bà nội của ông cháu rể người Pháp của mình đã 86 tuổi vẫn sống một mình, con cái, cháu chắt ở xa. Thỉnh thoảng con cháu về thăm, cụ vui vẻ lắm. Họ đi cụ vẫn mỉm cười đưa tiễn, bình thản sống nốt quãng đời của mình trong im lặng, không chút gì có vẻ cam chịu...".
Đây là đoạn mưu tả về một mảng đời sống sinh hoạt hàng ngày tại một số nước châu Âu như Pháp, Đức hay Ba Lan... cái mà các nhà văn chúng ta hay gọi là phương pháp "hiện thực xã hội chủ nghĩa", nghĩa là thấy nó tốt đẹp ra sao thì cứ nói. Phải chăng, cái gọi là cuộc sông ưu việt xã hội chủ nghĩa đâu phải đi tìm xa xỉ ở đâu xa, mà ngay ở các quốc gia phát triển châu Âu hiện nay đã có rồi.
Cám ơn nhà văn Thùy Linh.
TẠI SAO LẠI THẾ?
THUỲ LINH
Nhà văn Giang Thùy Linh
1.Lần này sang Pháp, mình được gặp đứa cháu đang học Báo chí ở Nga cũng qua chơi. Tất nhiên là vui vì lâu lâu mới gặp cháu một lần. Vì nó cũng theo nghề viết lách nên quan tâm hơn nhưng đứa cháu khác vì thiên vị đứa cùng nghề. Hỏi nó đã hành nghề báo chí thế nào sao không thấy viết lách gì vậy?
Nó bảo vừa rồi có viết một bài nhưng khi đưa cho ông thầy đọc trước khi gửi cho tờ báo địa phương, nơi nó đang học thì ông thầy cho là nó bịa đặt…Chuyện là thế này. Cháu mình được nhà trường cử đến phiên dịch cho cảnh sát Nga khi họ túm được hơn 40 người Việt Nam nhập cư trái phép khi đột nhật một xưởng may bất hợp pháp. Khi bị bắt, có người còn mặc quần đùi, đi dép tổ ong, không quần áo rét, không giấy tờ…Trước khi bị giải đi, tay quản lý cho ông chủ người Việt đã cao chạy xa bay không cho họ lấy thêm quần áo để mặc vì anh ta bảo: “Họ bắt rồi thả ấy mà. Nếu bị hỏi cứ nói là ở Moscow xuống đó chơi.”. Và cứ thế, cứ thế mà nói dối. Làm như cảnh sát Nga toàn là lũ mù dở. Qua xét hỏi thì biết, họ từ Việt Nam qua Nga theo con đường du lịch. Xuống đến sân bay họ bị chủ tịch thu hộ chiếu và…nhập cảnh vào xưởng may đó. Chủ hứa lương mỗi tháng 400 USD. Nhưng có người làm đến 2 năm cũng chưa hề nhận được một đồng lương nào. Chỉ duy nhất một người sang 4 năm, được tay chủ đó trả 1000 USD để gửi về nhà. Họ cư trú bất hợp pháp nhưng tay chủ vẫn trừ 1000 USD của họ, nói là để lo visa. Xưởng may ấy như một nhà tù tư nhân được dựng ở nơi vắng vẻ. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chắc chắn mấy tay cảnh sát địa phương (giống như mấy ông cảnh sát khu vực nhà mình) biết nhưng ăn tiền mà bỏ qua. Vì thế xưởng may này tồn tại đã nhiều năm. Tay chủ đã có lần bị phạt và trong tầm ngắm của cảnh sát nhưng vẫn nhởn nhơ. Cuối cùng hắn bỏ trốn, mặc kệ đám nô lệ làm thuê đói khát, rách nát, không giấy tờ, tiền bạc. Mặc dù theo cảnh sát nói chỉ cần hắn ra nộp phạt thì đám người kia được thả. Nhưng hắn đã nhẫn tâm bỏ mặc…Trong số người bị bắt, có người không biết chữ, không nhớ ngày sinh để mà khai báo. Cảnh sát Nga hỏi cháu mình: “Tại sao người Việt chúng mày đối xử với nhau như vậy?”. Tất nhiên cháu mình không thể trả lời được. Hoặc không dám trả lời…
Trong số bị bắt có 2 đứa sinh năm 1995 và 1996, chưa đủ tuổi vị thành niên được đưa vào trường giáo dưỡng, không phải ở tù. Ăn có khẩu phần riêng, hơn những người lớn. Lại còn được người Nga đưa đi chơi đây đó…Hai đứa này được đưa về nước trước, còn những người kia thì vào tù ở đến lúc nào bị trục xuất hoặc được ông chủ “mua” ra khỏi nhà tù của cảnh sát để bước vào nhà tù của kẻ có tên đồng bào. Họ mơ tưởng và bị lừa sẽ làm giàu nơi xứ tuyết xa xôi. Tại xứ sở vẫn còn tàn dư “thiên đường chủ nghĩa xã hội” mà họ còn cư xử nhận đạo như vậy đấy. Hơn đứt “thiên đường” có tên Việt Nam.
Cháu mình bức xúc về viết bài và đưa cho ông thầy người Nga đọc. Ông thày lắc đầu quầy quậy nói: “Tao không tin là có người lại cư xử với nhau như vậy? Tao không tin…”.
2. Cũng là chuyện thằng cháu mình kể. Có hai người đàn bà bị lừa đưa vào xưởng may bất hợp pháp như kể trên đang mọc như nấm ở Nga. Vì quá khổ và tuyệt vọng nên tìm cách bỏ trốn. Mới đầu họ tìm cách làm quen với hai con chó rất dữ bằng cách hàng ngày cho nó ăn. Rồi một đêm họ leo tường bỏ trốn, không giấy tờ tuỳ thân, không tiền bạc, không quần áo ấm…Họ nhắm mắt trèo bừa lên một chuyến tàu, trốn chui lủi. May sao họ tìm đến được địa chỉ một người quen mà họ biết. Rồi nhờ vả sao đó, họ vay tiền và “mua” được hộ chiếu ở sứ quán dù không có một thứ giấy tờ tuỳ thân nào. Có tiền là xong…Đã hơn 8 năm lưu lạc ở Nga vẫn chưa một lần về phép, cũng chả có tiền gửi về cho gia đình.. Nhắc đến con ở nhà chị ấy lại rơi nước mắt…
3. Cũng chuyện cháu gái mình đang sống và làm việc ở Pháp, rất nhỏ thôi nhưng mình không thể không nghĩ ngợi. Cháu có bầu hơn tháng. Đi khám và được kê toa thuốc miễn phí. Bác sỹ thấy nó có vẻ mệt mỏi và yếu nên bắt nghỉ làm một tuần. Kiểm tra thường xuyên nhá. Ba tháng đầu mỗi tháng được nghỉ thêm một ngày ngoài những ngày cuối tuần. Từ những tháng sau được nghỉ thêm 2 ngày. Đẻ đái chả lo nghĩ. Nhẹ tênh. Nếu đẻ đứa thứ 3 thì không phải đóng thuế. Chỉ cần ra trường có việc làm là cuộc sống được bảo đảm. Có thể mua ô tô, nhà cửa theo kiểu trả góp trong vài chục năm. Ở Pháp đưa vào điều luật con cái phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ chứ không thể chỉ trông vào tình cảm, nghĩa vụ chung chung để bảo đảm tình huống xấu nhất. Còn cha mẹ có nhận sự trợ giúp của con cái hay không là chuyện tự họ. Không có cảnh con cái đùn đẩy, đánh chửi nhau về chuyện nuôi cha mẹ già. Nhưng ngoài cuộc sống, tình cảm của cha mẹ và con cái rất tự nhiên, không ép nhau vào trách nhiệm, nghĩa vụ. Không mè nheo, trách móc, đòi hỏi…lẫn nhau. Vừa đủ quan tâm để mỗi người cảm thấy sự ấm áp của tình thân, còn vẫn có tự do và cuộc sống riêng, không ai xâm phạm đến. Bà nội của ông cháu rể người Pháp của mình đã 86 tuổi vẫn sống một mình, con cái, cháu chắt ở xa. Thỉnh thoảng con cháu về thăm, cụ vui vẻ lắm. Họ đi cụ vẫn mỉm cười đưa tiễn, bình thản sống nốt quãng đời của mình trong im lặng, không chút gì có vẻ cam chịu.
4. Còn giờ này ở quê mình vẫn bắt người không cần chứng minh tội lỗi, không cần lệnh. Người đã hết hạn giam giữ vẫn bị giữ lại cũng không cần lệnh. Yêu cầu ngừng biểu tình chống kẻ ngoại xâm. Vu cáo những người này bị “thế lực thù địch xúi giục, lợi dụng” và nhận tiền của bọn phản động. Đến giờ mình vẫn không thể cắt nghĩa chữ “phản động” mà họ nghĩ ra. Nhân sĩ trí thức bị coi thường như là kẻ mất trí, ngu xuẩn, gây bạo loạn, đòi hỏi hiểu biết về vận mệnh đất nước là điều vô lý…Nó không trong bất cứ thang bậc giá trị nào của nhân loại. Đến giờ vẫn khăng khăng con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là duy nhất đúng? Vẫn khăng khăng chủ nghĩa tư bản (không dùng chữ giãy chết nữa) đang khủng hoảng, chứa đựng mâu thuẫn sâu sắc, và theo họ sẽ sụp đổ trong nay mai…Mình chỉ thấy bầu trời Địa Trung Hải xanh thăm thẳm, biển Địa Trung Hải xanh mênh mông. Người dân tư bản bình thản hưởng thụ những lợi ích vật chất mà cả trăm nữa nữa người Việt sẽ chưa thể biết đến. Không biết những “thế lực thù địch” này cần chống phá cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam để làm gì? Mình chỉ thấy văn hoá và văn minh đã bắt rễ sâu ở mảnh đất tư bản chủ nghĩa này từ hàng ngàn năm trước, những thứ mà đến giờ này vẫn chưa ló dạng ở quê mình…Để hiểu tại sao người Việt ở Nga (và nhiều nơi khác) lại cư xử tàn nhẫn và khốn nạn như vậy với đồng loại. Giữa Minh đạp, các quan chức và ông chủ xưởng may bỏ trốn ở Nga có rất nhiều điểm tương đồng. Vì họ đều từ một cơ chế sinh ra và đều hưởng hoa trái của sự giáo dục như nhau.
Tại sao lại như thế? Câu trả lời này bao giờ được trả lời thoả đáng? Năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa? Chắc chắn là rất lâu…
Dẫn theo blog Quê Choa.
Tuy nhiên tôi thích nhất là đoạn này: "Cũng chuyện cháu gái mình đang sống và làm việc ở Pháp, rất nhỏ thôi nhưng mình không thể không nghĩ ngợi. Cháu có bầu hơn tháng. Đi khám và được kê toa thuốc miễn phí. Bác sỹ thấy nó có vẻ mệt mỏi và yếu nên bắt nghỉ làm một tuần. Kiểm tra thường xuyên nhá. Ba tháng đầu mỗi tháng được nghỉ thêm một ngày ngoài những ngày cuối tuần. Từ những tháng sau được nghỉ thêm 2 ngày. Đẻ đái chả lo nghĩ. Nhẹ tênh. Nếu đẻ đứa thứ 3 thì không phải đóng thuế. Chỉ cần ra trường có việc làm là cuộc sống được bảo đảm. Có thể mua ô tô, nhà cửa theo kiểu trả góp trong vài chục năm. Ở Pháp đưa vào điều luật con cái phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ chứ không thể chỉ trông vào tình cảm, nghĩa vụ chung chung để bảo đảm tình huống xấu nhất. Còn cha mẹ có nhận sự trợ giúp của con cái hay không là chuyện tự họ. Không có cảnh con cái đùn đẩy, đánh chửi nhau về chuyện nuôi cha mẹ già. Nhưng ngoài cuộc sống, tình cảm của cha mẹ và con cái rất tự nhiên, không ép nhau vào trách nhiệm, nghĩa vụ. Không mè nheo, trách móc, đòi hỏi…lẫn nhau. Vừa đủ quan tâm để mỗi người cảm thấy sự ấm áp của tình thân, còn vẫn có tự do và cuộc sống riêng, không ai xâm phạm đến. Bà nội của ông cháu rể người Pháp của mình đã 86 tuổi vẫn sống một mình, con cái, cháu chắt ở xa. Thỉnh thoảng con cháu về thăm, cụ vui vẻ lắm. Họ đi cụ vẫn mỉm cười đưa tiễn, bình thản sống nốt quãng đời của mình trong im lặng, không chút gì có vẻ cam chịu...".
Đây là đoạn mưu tả về một mảng đời sống sinh hoạt hàng ngày tại một số nước châu Âu như Pháp, Đức hay Ba Lan... cái mà các nhà văn chúng ta hay gọi là phương pháp "hiện thực xã hội chủ nghĩa", nghĩa là thấy nó tốt đẹp ra sao thì cứ nói. Phải chăng, cái gọi là cuộc sông ưu việt xã hội chủ nghĩa đâu phải đi tìm xa xỉ ở đâu xa, mà ngay ở các quốc gia phát triển châu Âu hiện nay đã có rồi.
Cám ơn nhà văn Thùy Linh.
TẠI SAO LẠI THẾ?
THUỲ LINH
Nhà văn Giang Thùy Linh
1.Lần này sang Pháp, mình được gặp đứa cháu đang học Báo chí ở Nga cũng qua chơi. Tất nhiên là vui vì lâu lâu mới gặp cháu một lần. Vì nó cũng theo nghề viết lách nên quan tâm hơn nhưng đứa cháu khác vì thiên vị đứa cùng nghề. Hỏi nó đã hành nghề báo chí thế nào sao không thấy viết lách gì vậy?
Nó bảo vừa rồi có viết một bài nhưng khi đưa cho ông thầy đọc trước khi gửi cho tờ báo địa phương, nơi nó đang học thì ông thầy cho là nó bịa đặt…Chuyện là thế này. Cháu mình được nhà trường cử đến phiên dịch cho cảnh sát Nga khi họ túm được hơn 40 người Việt Nam nhập cư trái phép khi đột nhật một xưởng may bất hợp pháp. Khi bị bắt, có người còn mặc quần đùi, đi dép tổ ong, không quần áo rét, không giấy tờ…Trước khi bị giải đi, tay quản lý cho ông chủ người Việt đã cao chạy xa bay không cho họ lấy thêm quần áo để mặc vì anh ta bảo: “Họ bắt rồi thả ấy mà. Nếu bị hỏi cứ nói là ở Moscow xuống đó chơi.”. Và cứ thế, cứ thế mà nói dối. Làm như cảnh sát Nga toàn là lũ mù dở. Qua xét hỏi thì biết, họ từ Việt Nam qua Nga theo con đường du lịch. Xuống đến sân bay họ bị chủ tịch thu hộ chiếu và…nhập cảnh vào xưởng may đó. Chủ hứa lương mỗi tháng 400 USD. Nhưng có người làm đến 2 năm cũng chưa hề nhận được một đồng lương nào. Chỉ duy nhất một người sang 4 năm, được tay chủ đó trả 1000 USD để gửi về nhà. Họ cư trú bất hợp pháp nhưng tay chủ vẫn trừ 1000 USD của họ, nói là để lo visa. Xưởng may ấy như một nhà tù tư nhân được dựng ở nơi vắng vẻ. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chắc chắn mấy tay cảnh sát địa phương (giống như mấy ông cảnh sát khu vực nhà mình) biết nhưng ăn tiền mà bỏ qua. Vì thế xưởng may này tồn tại đã nhiều năm. Tay chủ đã có lần bị phạt và trong tầm ngắm của cảnh sát nhưng vẫn nhởn nhơ. Cuối cùng hắn bỏ trốn, mặc kệ đám nô lệ làm thuê đói khát, rách nát, không giấy tờ, tiền bạc. Mặc dù theo cảnh sát nói chỉ cần hắn ra nộp phạt thì đám người kia được thả. Nhưng hắn đã nhẫn tâm bỏ mặc…Trong số người bị bắt, có người không biết chữ, không nhớ ngày sinh để mà khai báo. Cảnh sát Nga hỏi cháu mình: “Tại sao người Việt chúng mày đối xử với nhau như vậy?”. Tất nhiên cháu mình không thể trả lời được. Hoặc không dám trả lời…
Trong số bị bắt có 2 đứa sinh năm 1995 và 1996, chưa đủ tuổi vị thành niên được đưa vào trường giáo dưỡng, không phải ở tù. Ăn có khẩu phần riêng, hơn những người lớn. Lại còn được người Nga đưa đi chơi đây đó…Hai đứa này được đưa về nước trước, còn những người kia thì vào tù ở đến lúc nào bị trục xuất hoặc được ông chủ “mua” ra khỏi nhà tù của cảnh sát để bước vào nhà tù của kẻ có tên đồng bào. Họ mơ tưởng và bị lừa sẽ làm giàu nơi xứ tuyết xa xôi. Tại xứ sở vẫn còn tàn dư “thiên đường chủ nghĩa xã hội” mà họ còn cư xử nhận đạo như vậy đấy. Hơn đứt “thiên đường” có tên Việt Nam.
Cháu mình bức xúc về viết bài và đưa cho ông thầy người Nga đọc. Ông thày lắc đầu quầy quậy nói: “Tao không tin là có người lại cư xử với nhau như vậy? Tao không tin…”.
2. Cũng là chuyện thằng cháu mình kể. Có hai người đàn bà bị lừa đưa vào xưởng may bất hợp pháp như kể trên đang mọc như nấm ở Nga. Vì quá khổ và tuyệt vọng nên tìm cách bỏ trốn. Mới đầu họ tìm cách làm quen với hai con chó rất dữ bằng cách hàng ngày cho nó ăn. Rồi một đêm họ leo tường bỏ trốn, không giấy tờ tuỳ thân, không tiền bạc, không quần áo ấm…Họ nhắm mắt trèo bừa lên một chuyến tàu, trốn chui lủi. May sao họ tìm đến được địa chỉ một người quen mà họ biết. Rồi nhờ vả sao đó, họ vay tiền và “mua” được hộ chiếu ở sứ quán dù không có một thứ giấy tờ tuỳ thân nào. Có tiền là xong…Đã hơn 8 năm lưu lạc ở Nga vẫn chưa một lần về phép, cũng chả có tiền gửi về cho gia đình.. Nhắc đến con ở nhà chị ấy lại rơi nước mắt…
3. Cũng chuyện cháu gái mình đang sống và làm việc ở Pháp, rất nhỏ thôi nhưng mình không thể không nghĩ ngợi. Cháu có bầu hơn tháng. Đi khám và được kê toa thuốc miễn phí. Bác sỹ thấy nó có vẻ mệt mỏi và yếu nên bắt nghỉ làm một tuần. Kiểm tra thường xuyên nhá. Ba tháng đầu mỗi tháng được nghỉ thêm một ngày ngoài những ngày cuối tuần. Từ những tháng sau được nghỉ thêm 2 ngày. Đẻ đái chả lo nghĩ. Nhẹ tênh. Nếu đẻ đứa thứ 3 thì không phải đóng thuế. Chỉ cần ra trường có việc làm là cuộc sống được bảo đảm. Có thể mua ô tô, nhà cửa theo kiểu trả góp trong vài chục năm. Ở Pháp đưa vào điều luật con cái phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ chứ không thể chỉ trông vào tình cảm, nghĩa vụ chung chung để bảo đảm tình huống xấu nhất. Còn cha mẹ có nhận sự trợ giúp của con cái hay không là chuyện tự họ. Không có cảnh con cái đùn đẩy, đánh chửi nhau về chuyện nuôi cha mẹ già. Nhưng ngoài cuộc sống, tình cảm của cha mẹ và con cái rất tự nhiên, không ép nhau vào trách nhiệm, nghĩa vụ. Không mè nheo, trách móc, đòi hỏi…lẫn nhau. Vừa đủ quan tâm để mỗi người cảm thấy sự ấm áp của tình thân, còn vẫn có tự do và cuộc sống riêng, không ai xâm phạm đến. Bà nội của ông cháu rể người Pháp của mình đã 86 tuổi vẫn sống một mình, con cái, cháu chắt ở xa. Thỉnh thoảng con cháu về thăm, cụ vui vẻ lắm. Họ đi cụ vẫn mỉm cười đưa tiễn, bình thản sống nốt quãng đời của mình trong im lặng, không chút gì có vẻ cam chịu.
4. Còn giờ này ở quê mình vẫn bắt người không cần chứng minh tội lỗi, không cần lệnh. Người đã hết hạn giam giữ vẫn bị giữ lại cũng không cần lệnh. Yêu cầu ngừng biểu tình chống kẻ ngoại xâm. Vu cáo những người này bị “thế lực thù địch xúi giục, lợi dụng” và nhận tiền của bọn phản động. Đến giờ mình vẫn không thể cắt nghĩa chữ “phản động” mà họ nghĩ ra. Nhân sĩ trí thức bị coi thường như là kẻ mất trí, ngu xuẩn, gây bạo loạn, đòi hỏi hiểu biết về vận mệnh đất nước là điều vô lý…Nó không trong bất cứ thang bậc giá trị nào của nhân loại. Đến giờ vẫn khăng khăng con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là duy nhất đúng? Vẫn khăng khăng chủ nghĩa tư bản (không dùng chữ giãy chết nữa) đang khủng hoảng, chứa đựng mâu thuẫn sâu sắc, và theo họ sẽ sụp đổ trong nay mai…Mình chỉ thấy bầu trời Địa Trung Hải xanh thăm thẳm, biển Địa Trung Hải xanh mênh mông. Người dân tư bản bình thản hưởng thụ những lợi ích vật chất mà cả trăm nữa nữa người Việt sẽ chưa thể biết đến. Không biết những “thế lực thù địch” này cần chống phá cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam để làm gì? Mình chỉ thấy văn hoá và văn minh đã bắt rễ sâu ở mảnh đất tư bản chủ nghĩa này từ hàng ngàn năm trước, những thứ mà đến giờ này vẫn chưa ló dạng ở quê mình…Để hiểu tại sao người Việt ở Nga (và nhiều nơi khác) lại cư xử tàn nhẫn và khốn nạn như vậy với đồng loại. Giữa Minh đạp, các quan chức và ông chủ xưởng may bỏ trốn ở Nga có rất nhiều điểm tương đồng. Vì họ đều từ một cơ chế sinh ra và đều hưởng hoa trái của sự giáo dục như nhau.
Tại sao lại như thế? Câu trả lời này bao giờ được trả lời thoả đáng? Năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa? Chắc chắn là rất lâu…
Dẫn theo blog Quê Choa.
Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011
Nam Cao: Ðôi mắt
My blog: Nhân sự kiện giới văn nghệ sĩ nước nhà đang ồn ào đến mức hỗn loạn trong việc tranh giàng giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Chứng kiến cảnh ấy, là người dân bình thường, tự nhiên mình cảm thấy buồn nôn vì cách ứng xử của giới văn nghệ sĩ thời nay. Tuy nhiên, trong mớ ô hợp đó vẫn còn nguyên đó những nhân cách lớn trong làng văn nghệ Việt Nam như các nhà văn Nguyên Ngọc, Nam Sơn, Sơn Tùng.. những con người đã khẳng khái từ chối giải thưởng vì cả trăm ngàn lý do. Một trường hợp khá đặc biệt khác là NS.Phạm Tuyên - nhạc sĩ của những bài hát gắn liền với các cháu thiếu nhi, các sự kiện lớn của dân tộc thì thẳng thừng từ chối viết đơn xin giải thưởng với lý do: Nếu thấy xứng đáng thì xét còn bảo đây viết đơn để xin được xét thì đ. cần nhé, nói thế cho nó nhanh!). Thế là các lều văn còn lại tranh nhau, cãi nhau chí chóe, ỏm tỏi cả lên, cứ như là giết trâu, giết bò ăn khoán không bằng. Viết đến đây chợt nhớ tới Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan hay Nam Cao...Họ chính là những văn nghệ sĩ nhân dân đích thực. Tác phẩm của họ là kho báu của nền văn nghệ nước nhà. Nhân TTHN đăng lại Truyện ngắn "Đôi mắt" của nhà văn Nam Cao, tình cờ đọc lại tôi chợt à lên một tiếng, thế mà không biết nhỉ. Xin mạn phép TTHN để đăng lại truyện ngắn nổi tiếng này của ông.
Nam Cao: Đôi mắt(Tên đầu: Tiên sư anh Tào Tháo)
Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo ti :
- Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây.
- Cám ơn anh nhé. Lát nữa tôi sẽ sang nhà anh chơi.
Tôi vỗ vai anh bảo vậy. Tôi toan vào. Anh vội ngăn tôi lại :
- Khoan đã. Anh để em gọi cho anh trong nhà xích con chó lại. Con chó to và dữ lắm.
-
Tôi mở to đôi mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị. Tôi nhớ đến những lần đến chơi nhà anh Hoàng ở Hà Nội. Bấm chuông xong, bao giờ tôi cũng phải chờ anh Hoàng thân hành ra nắm chặt cái vòng da ở cổ một con chó tây to bằng con bê, dúi đầu nó vào gầm cái cầu thang, rồi mới có đủ can đảm bước vội qua đằng sau cái đuôi nó để vào phòng khách.
Tôi rất sợ con chó giống Ðức hung hăng ấy. Sợ đến nỗi một lần đến chơi, không thấy anh Hoàng ra đứng tấn để giữ nó lại buồn rầu báo cho tôi biết nó chết rồi, thì mặc dầu có làm ra mặt tiếc với anh, thật tình thấy nhẹ cả người. Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình. Không phải vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn. Anh Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất tài tình. Khi chúng tôi đến nơi chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu, con chó của anh chưa phải nhịn bữa nào. Nhưng xác người chết đói ngập phố phường. Nó chết có lẽ vì chén phải thịt người ươn hay vì hút phải nhiều xú khí. Thảm hại thay cho nó.
Thế mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đình anh tản cư về, cách Hà Nội hàng trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú vị !… Tôi cười nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười gì, anh thanh niên cũng nhe răng ra cười. Ðáp lại tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng mảnh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi đen, áo len xám, chạy ra. Một đôi mắt đen lay láy nhìn tôi…
- Bác Ðộ, ba ơi ! Bác Ðộ !…
Thằng Ngữ, con anh Hoàng. Nó chẳng kịp chào tôi, ngoắt chạy trở vào, reo rối rít.
- Cái gì ? Cái gì ? Hừm !
Tiếng trầm trầm nhưng lại có vẻ nạt nộ của anh Hoàng hỏi nó. (Bao giờ nói với con, anh Hoàng cũng có cái giọng dậm doạ buồn cười ấy). Thằng bé líu ríu những gì tôi nghe không rõ. Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng giục con :
- Ngữ xích con chó lại. Xích con chó lại cái cột tít đằng kia.
Anh Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả, bởi vì người khí béo quá, vừa bước vừa bơi hai cánh tay kềnh khệnh ra hai bên, những khối thịt ở bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá. Cái dáng điệu nặng nề ấy, hồi còn ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững chạc và hơi bệ vệ. Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng trong bộ áo ngũ màu xanh nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được.
Anh đứng lại bên trong cổng, một bàn tay múp míp hơi chìa về phía tôi, đầu hơi ngửa về đằng sau, miệng hé mở, bộ điệu một người ngạc nhiên hay mừng rỡ quá. Tôi có thì giờ nhận rõ một sự thay đổi trên bộ mặt đầy đặn của anh : trên mép một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ.
Sửng người ra một lúc, rồi anh mới lâm li kêu lên những tiếng ở trong cổ họng :
- ối giời ơi ! Anh ! Quý hoá quá !
Anh quay lại :
- Mình ơi ! Anh Ðộ thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng mình.
Chị Hoàng lúc bấy giờ đã chạy ra, tay còn đang cài nốt khuy chiếc áo dài màu gạch vừa mới mặc vội vào để ra đón khách. Người đàn bà vồn vã :
- Mong bác mãi. Lúc thằng cháu mới chạy vào, nhà tôi cứ tưởng nó trông nhầm. Cứ tưởng bác ở cách hàng mười lăm hai mươi cây số…
Bắt tay tôi xong, anh Hoàng dịu dàng đẩy tôi đi trước. Chị vợ đã nhanh nhẹn chạy trước vào nhà, dọn bàn dọn ghế. Sao lại có sự săn đón cảm động như thế được ? Tôi đâm ngờ những ý nghĩ không tốt của tôi về anh, từ hồi Tổng khởi nghĩa trở đi. Sau Tổng khởi nghĩa, anh Hoàng đối với tôi đột nhiên nhạt hẳn đi. Mấy lần tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay đổi lớn của dân tộc chúng ta, nhưng đều không gặp anh. Cửa nhà anh đóng luôn luôn. Thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cái cửa nhìn qua một lỗ con, bao giờ cũng hỏi cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra bảo tôi rằng ông nó không có nhà.
Mấy lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng, trước khi bấm chuông, tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả quyết rằng ông bà nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Ðã đích xác là anh không muốn tiếp tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến nữa. Mỗi lần gặp nhau ở ngoài đường, chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất lạnh lùng, hỏi thăm nhau một câu chiếu lệ, rồi ai đi đường nấy. Tôi đã biết Hoàng vẫn có tính tự nhiên “đá” bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ mình anh biết. Có khi chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình của một nhà phê bình đã chê một vài tác phẩm của anh. Có khi cũng chẳng cần đến thế. Anh có thể là một người bạn rất thân của anh Hoàng khi anh chỉ là một nhà văn ở tỉnh xa chỉ góp mặt với Hà Nội bằng những bài gửi về đăng báo, nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác, anh sẽ không phải là bạn anh Hoàng nữa. Có lẽ anh Hoàng biết cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi anh nhiều quá.
Riêng tôi, trước đây, tôi vẫn không hiểu sao người ta có thể khinh ghét anh nhiều thế. Tận đến lúc bị anh đá tôi mới hiểu. Tôn còn được hiểu rõ ràng hơn. Vào cái hồi quân đội Ðồng minh vào giải giáp quân Nhật ở nước ta, một số gái kiếm tiền trút bộ đầm ra để mặc bộ áo Tầu. Còn anh bạn của tôi, chẳng biết bám được ông má chín nào, ra một tờ báo hằng ngày để chửi vung lên. Chửi hết cả mọi người rồi anh mới lôi đến một số bạn cũ của anh ra. Toàn là những người hiền lành, xưa nay chưa hề chạm đến một sợi tóc của anh. Nhưng tên họ trên những tờ báo của phong trào giải phóng quốc gia được hoan nghênh làm ngứa mắt anh. Anh hằn học gi mỉa họ là những nhà văn vô sản và cho họ là một bọn khố rách áo ôm đã đến ngày mả phát, ăn mặc và tẩm bổ hết cả phần thiên hạ. Tôi cười nhạt. Không phải tôi khó chịu vì những lời vu cáo của anh. Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt Nam dùng ngòi bút mình để làm những việc đê tiện thế. Anh Hoàng vẫn là con người cũ. Anh không chịu đổi. Tôi đã tưởng anh với tôi chẳng bao giờ còn thân mật với nhau trở lại… Nhưng sao gặp tôi lần này anh lại hân hoan đến thế ? Anh đã đủ thì giờ để lột xác rồi chăng ? Hay cuộc kháng chiến mãnh liệt của dân ta đã quét sạch khỏi đầu anh những cái gì cũ còn sót lại ?
Thật tình, tôi rất cảm động khi nghe thấy anh kể lể :
- Chẳng ngày nào chúng tôi không nhắc đến anh. Nguyên một hôm xem tờ báo của ông hàng xóm thấy có bài của anh, tôi đoán anh làm tuyên truyền ở tỉnh này. Tiện gặp một cán bộ về làng, tôi nhờ gửi cho anh một bức thư. Cũng là gửi cầu may. Thật không dám chắc thư đến tay anh. Mà có đến, có lẽ anh nhiều việc, cũng khó lòng về chơi với chúng tôi. Thế mà lại được gặp anh. Trông anh không lấy gì làm khoẻ mà sao anh đi bộ tài thế ? Mà sao anh lại tìm vào được đúng làng này ? Hồi mới đến đây, tôi ra khỏi nhà độ mươi bước là đã lạc. Nhiều ngõ quá mà ngõ nào cũng giống ngõ nào. Có khi ra đồng về cũng nhầm ngõ…
Cái nhà Hoàng ở nhờ có thể gọi là rộng rãi. Ba gian nhà gạch sạch sẽ. Hàng hiên rộng ở ngoài. Sân gạch, tường hoa. Một mảnh vườn trồng rau tươi rười rượi. Xinh xắn lắm. Thích nhất là gia đình anh được ở cả nhà. Chủ nhân cũng là người buôn bán trên Hà Nội. Ông thường nhờ vốn liếng và mối hàng của vợ chồng anh. Còn gì hơn là lúc này trả nghĩa lại nhau. Ông đã dọn sang nhà ông bố ở liền bên, nhường lại nhà cho anh hoàn toàn sử dụng. Anh cho tôi biết thế và bảo tiếp :
- Giá chúng tôi chưa tìm được nhà ông thì chưa biết ra sao. Tôi thấy nhiều người tản cư khổ lắm. Anh tính có đời nào anh ruột tản cư về nhà em mà đến lú vợ đẻ, em bắt ra một cái lều ngoài vườn để đẻ !
Tôi cho anh biết người nhà quê mình có tục kiêng…
- Thì đã đành là vậy… Anh nói giọng tức tối và bất bình – Thì đã đành là vậy, nhưng lúc này còn kiêng kỵ gì ? Mà có những thế thôi đâu ! Thấy anh bây giờ khổ sở, em đã chẳng thương, lại còn xỉa xói, nhắc đến những lúc hoang phí trước để mà xỉ vả. Nào “lúc có tiền thì chẳng biết ăn biết nhịn để dè, chỉ biết nay gà mai chó !”, nào “lúc buôn bán phát tài, bảo gửi tiền về quê tậu ruộng vườn thì bảo không cần vườn ruộng, để tậu nhà ở tỉnh kia, bây giờ không bám lấy nhà ở tỉnh đi ?…” Tệ lắm ! Anh tính mấy đời mới có một phen loạn lạc thế này ? Có tiền, thằng nào chẳng ăn chơi ? Có mấy người cứ còm cọm làm như trâu, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, ở thì chui rúc thế nào cho xong thôi, để tiền mà tậu vườn, tậu ruộng như họ ?
Chị Hoàng tiếp lời chồng :
- Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một trăm người thì chín mươi người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình. Mãi đến lúc có lệnh tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi đùng một cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp ? May mà còn vớt vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi, ở ngoại thành. Khéo lắm thì ăn được độ một năm. Ðến lúc hết tất nhiên là phải khổ rồi. Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ, lý ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi không mua nổi mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta nói cho thì nhục.
Họ tàn nhẫn lắm cơ, bác ạ !
Anh Hoàng cười :
- Mà sao họ đã bận rộn nhiều đến thế mà vẫn còn thì giờ chú ý đến những người chung quanh nhiều đến thế ? Anh chỉ giết một con gà ngày mai cả làng này đã biết. Này, anh mới đến chơi thế mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nom rồi. Ngày mai thế nào chuyện anh đến chơi tôi cũng đã chạy khắp làng. Họ sẽ kể rất rạch ròi tên anh, tuổi anh, anh béo gầy thế nào, có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt, có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái.
Tôi mỉm cười, cắt nghĩa cho anh hiểu : lúc này họ cần để ý đến những người lạ mặt tới làng. Tôi chắc mấy người nấp nom tôi là mấy người có trách nhiệm trong uỷ ban mấy anh tự vệ.
- Lại còn các ông uỷ ban với các bố tự vệ nữa mới chết người ta chứ ! Họ vừa ngố vừa nhặng sị. Ðàn bà chửa mà đến nỗi cho là có lựu đạn giắt trong quần ! Họ đánh vần xong một cái giấy ít nhất phải mất mười lăm phút, thế mà động thấy ai đi qua là hỏi giấy. Anh đi, hỏi. Anh về, hỏi, hỏi nữa. Anh vừa ra khỏi làng, sực nhớ quên cái mũ, trở lại lấy, cũng hỏi rồi mới cho vào. Lát nữa anh ra, lại hỏi. Hình như họ cho cái việc hỏi giấy là thú lắm.
Anh cười gằn một tiếng, nhìn bao trùm cả người tôi, hỏi :
- Anh sống ở nhà quê nhiều, anh có hiểu tâm lý của họ không ?
Anh thử cắt nghĩa hộ tôi tại làm sao họ lại nhiêu khê đến thế ?
Từ trước đến nay, tôi chỉ hoàn toàn ở Hà Nội, thành thử chỉ mới biết những người nhà quê qua những truyện ngắn của anh. Bây giờ gần họ, tôi quả là thấy không nhịn được. Không chịu được !
Nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối. Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đủ thứ. Toàn là những người đần độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả. Cha con, anh em ruột cũng chẳng tốt với nhau. Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng lố lăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân phát xít, phản động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả dân tân chủ nữa mới khổ thiên hạ chứ ! Họ mà tóm được ai thì có mà chạy lên trời ! Thế nào họ cũng tuyên truyền cho hàng giờ. Có lẽ họ cho những người ở Hà Nội về như vợ chồng anh đều lạc hậu, chưa giác ngộ nên họ không bỏ lỡ một dịp nào để tuyên truyền vợ chồng anh. Mà tuyên truyền như thế nào !…
Anh trợn mắt bảo tôi :
- Tôi kể cho anh nghe chuyện này thế nào anh cũng cho là bịa. Nhưng tôi có bịa một tí nào, tôi chết. Một hôm, tôi đi chợ huyện chơi. ở nhà đã hỏi đường cẩn thận rồi, nhưng đến một ngã ba, lại quên béng mất, không biết phải rẽ lối nào. Ðành đứng lại, chờ có người đi qua thì hỏi.
Chờ mãi mới thấy một ông thanh niên nghễu nghện vác một bó tre đi tới. Tôi chào rồi hỏi : “Ði chợ huyện lối nào, ông làm ơn chỉ giúp tôi !” Anh ta trố mặt nhìn tôi chẳng rằng chẳng nói, như nhìn một giống người lạ mới từ Hoả tinh rơi xuống. Tôi biết hiệu, rút giấy đưa cho anh xem rồi lại hỏi. Bây giờ anh ta mới bảo : “Ông cứ đi lối này, đến chỗ có một cây đa to thì rẽ về tay phải, đi một quãng lại rẽ về tay trái, qua một cách đồng, vào đường gạch làng Ngò, vòng qua đằng sau đình, rẽ về tay phải, đi một quãng nữa là đến chợ”. Ðại khái thế, chứ không hoàn toàn đúng thế. Chỉ biết là nó lôi thôi rắc rối, nhiều bên phải bên trái quá, đến nỗi tôi không tài nhận nhận được. Anh ta bày cho tôi một cách : đứng đợi đấy, gặp ai gánh hàng đi chợ thì theo. Tôi cho là phải. Anh ta cười bảo : “Thôi thế chào ông. Cháu vô phép ông đi trước. Cháu vội lắm. Cháu phải vác ngay bó tre này lên Thượng để làm công tác phá hoại, cản cơ giới hoá tối tân của địch. Cuộc trường kỳ kháng chiến của ta phải chia làm ba giai đoạn : giai đoạn phòng ngự, giai đoạn cầm cự, giai đoạn tổng phản công. Giai đoạn phòng ngự nghĩa là…” Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm trang giấy.
Chị Hoàng cười rú lên. Tôi cũng cười, nhưng có lẽ cái cười chẳng được tươi cho lắm. Anh thấy cần phải thề lần nữa :
- Tôi có bịa thì tôi chết. Mà tôi lại thề với anh rằng lúc ấy tôi ngạc nhiên quá, không còn cười được, vả lại cũng không dám cười. Cười, nhỡ anh ta đánh cho thì tai hại. Nhưng từ hôm ấy ngày nào tôi cũng bắt nhà tôi đóng cổng suốt ngày không dám đi đâu nữa.
Tôi cười gượng. Ðiều muốn nói với anh, tôi đành giấu kín trong lòng không nói nữa. Tôi biết chẳng đời nào anh nhận làm một anh tuyên truyền nhãi nhép như tôi. Vả lại dầu có rủ được anh làm như tôi, khoác cái ba lô lên vai, đi hết làng nọ đến làng kia để nhận xét nông thôn một cách kỹ càng hơn cũng chẳng ích gì. Anh đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài của nó mà không nhìn thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản.
Tôi biết lắm. Trước mặt người đàn anh trong văn giới ấy, tôi chỉ là một kẻ non dại, mới tập tọng học nghề. Bởi vậy tôi không dám nói hết những ý nghĩa của tôi ra. Tôi chỉ rụt rè và đưa ra vài điểm nhận xét :
- Có nhiều cái kỳ lạ lắm. Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi dã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, theo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương. Nghe các ông nói đến “sức mạnh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ. Tôi vẫn cho rằng đa số nước mình là nông dân, mà nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm cách mạng. Cái thời Lê Lợi, Quang Trung, có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng bao giờ còn trở lại. Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngả ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm. Tôi đã theo họ đi đánh phủ. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ. Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh, mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Mà không hề bận tâm đến vợ con, nhà cửa, như họ vẫn thường thế nữa. Gặp họ, anh không thể tưởng tượng được rằng chính những người ấy, chỉ trước đây dăm tháng, giá có bị anh lính lệ ghẹo vợ ngay trước mặt cũng chỉ đành im thin thít mà đi, đi một quãng thật xa rồi mới dám lẩm bẩm chửi thầm vài tiếng, còn bao nhiêu ghen tức đành là đem về nhà trút vào má vợ.
Hoàng nhếch một khoé môi lên, gay gắt :
- Nhưng anh vẫn không thể chối được rằng họ có nhiều cái ngố không chịu được. Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn. Nhiều ông cầm đến một khẩu súng kiểu lạ, không biết bắn thế nào. Nước mình như vậy, suốt đời không được mó đến khẩu súng thì làm gì biết bắn, họ đánh mãi rồi cũng biết. Thì cứ để cho họ đánh Tây đi ! Nhưng tai hại là người ta lại cứ muốn cho họ làm uỷ ban nọ, uỷ ban kia nữa, thế mới chết người ta chứ ! Nói thí dụ ngay như cái thằng chủ tịch uỷ ban khu phố tôi ở Hà Nội lúc chưa đánh nhau, nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm uỷ ban ? Ông chủ tịch làng này, xem giấy của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông. Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ. Chị Hoàng cười nhiều quá, phát ho, chảy cả nước mắt ra. Rút khăn tay lau nước mắt xong, chị chép miệng lắc đầu, bảo tôi :
- Giá bác ở đây thì nhiều lúc bác cũng cười đến chết. Thế mà ông chủ tịch ấy cứ nằn nì mãi hai ba lượt, yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ hay làm tuyên truyền giúp.
Anh chồng tiếp :
- Tôi chẳng có việc gì làm, lắm lúc cũng buồn. Nhưng công tác với những người như vậy thì anh bảo công tác làm sao được ? Ðành để các ông ấy gọi là phản động.
Muống lảng chuyện, tôi hỏi :
- Lúc này nhiều thì giờ thế, chắc anh viết được. Anh đã viết được cái gì thú chưa ?
- Chưa, bởi vì ngay đến một cái bàn viết ra hồn cũng không còn nữa. Nhưng thế nào chúng mình cũng phải viết một cái gì để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm còn có thể hay bằng mấy cái “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống đến lúc này phải biết !
Cơm chiều xong vào lúc bốn giờ, Hoàng mời tôi cùng đi với vợ chồng anh đến chơi nhà mấy người ở phố cũng tản cư về. Có đâu một ông tuần phu về hưu, một ông đốc học bị thải hồi vì một vụ hiếp học trò, một cụ phán già trước đây chuyên môn sống về nghề lo kiện, hay chạy cửu phẩm cho thiên hạ. Anh chẳng ưa gì họ bởi vì họ chẳng biết gì đến văn chương nghệ thuật, chỉ tổ tôm là giỏi.
Nói chuyện với họ chán phè. Nhưng nếu chẳng giao thiệp với họ thì cũng chẳng biết đến chơi nhà ai được nữa… Anh vừa đi vừa tâm sự nhỏ với tôi như vậy, và thì hầm kề sát tai tôi những cái thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời của từng người một, trong khi chúng tôi bước chầm chậm để đợi chị Hoàng ra sau chúng tôi một chút.
Chị Hoàng rảo bước để theo kịp chúng tôi. Hai má đỏ ứng vì lửa bếp. Chị cắt nghĩa sự chậm trễ của chị :
- Tôi xem lại nồi khoai lang vui, để lát nữa về ăn. ở đây cao lương mỹ vị chẳng có gì, nhưng được cái thức ăn vặt thì sẵn. Bác ở chơi đây, mai tôi xem nhà ai có mía to mua mấy cây về ướp hoa bưởi ăn thơm lắm.
Ðến một cái cổng gạch lớn có dây leo, anh Hoàng giật dây chuông.
Một thằng bé chạy ra, lễ phép chào :
- Lạy ông !
- Không dám. Cụ Phạm có nhà không cậu ?
- Bẩm ông, cụ sang bên ông đốc.
- Sao thấy nói ông đốc ở đây từ sáng ?
- Bẩm không ạ ! Sáng nay không thấy ông đốc sang chơi bên này.
Chúng tôi quay trở lại. Qua mấy cái ngõ ngoằn ngoèo khác, đến một cái cổng gạch có dây leo khác. Một chị vú ẵm em đứng cổng :
- Lạy ông ! Lạy bà !
- Không dám. Ông đốc có nhà hay đi chơi vắng ?
- Bẩm ông, ông đốc con sang cụ tuần.
- Sao bên cụ tuần bảo sang đây ?
- Bẩm ông, không ạ !
Anh Hoàng quay ra. Ði được mấy bước, anh quay lại khẽ bảo vợ :
- Các bố lại tổ tôm. Mụ Yên Kỷ cũng không có nhà, phải không ?
Con mụ ấy cũng là đệ tử tổ tôm hạng nặng. Chắc họ tụ tập ở đây hay ở bên nhà cụ Phạm, sai người gác cổng.
Chị Hoàng không có ý kiến gì. Anh Hoàng vỗ vai bảo tôi :
- Anh nghĩ có buồn không ? Tri thức thì thế đấy. Còn dân thì… như anh đã biết.
Tôi thầm rủa sự tình cờ sao lại xô đẩy anh về đây cùng với bằng ấy thứ cặn bã của giới thượng lưu trí thức. Sao anh không đi theo bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền nhập bọn với các đoàn văn hoá kháng chiến để được thấy những sinh viên, công chức sung vào vệ quốc quân, những bác sĩ sốt sắng làm việc trong các viện khảo cứu hay các viện quân y, những bạn văn nghệ sĩ của anh đang mê mải đi sâu vào quần chúng để học họ và dạy họ, đồng thời tìm những cảm hứng mới cho văn nghệ ?
Tôi cười nhạt :
- Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à ?
Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột :
- ấy đấy, tôi bi lắm. Cứ quan sát kỹ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp, mà chỉ có đến thằng Ðờ-Gôn.
Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến khác của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng mấy Ðờ-Gôn. Anh lắc đầu :
- Bằng thế nào được Hồ Chí Minh !
Và anh tiếp :
- Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mỹ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp ông già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa là gì ? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mỹ xúi thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3 ? Mình cho nó như vậy đã là phúc đời nhà nó lắm rồi. Ðáng lẽ nó phải bám chằng chằng lấy chứ ?
Buổi tối ăn khoai vùi xong, uống mấy tuần trà rồi đi nằm sớm. Anh sợ tôi đã đi hàng mười cây số, lại ngồi nói chuyện suốt từ lúc đến, chắc không thể ngồi được nữa. Vả lại tuy chưa buồn ngủ nhưng nằm đắp chăn cho ấm và buông màn cho khỏi muỗi thì vẫn tốt. Hai cái giường nhỏ kề song song, cách nhau có một lối đi nhỏ. Màn tuyn trắng toát. Chỉ trông cũng đã thấy thơm tho và thoải mái.
Hoàng với tôi đi nằm trước. Một gói thuốc lá thơm và một bao diêm đặt ở bên cạnh cái đĩa gạt tàn thuốc lá ở đầu giường. Tôi để nguyên cả quần áo tây và chỉ ngay ngáy lo đêm nay một vài chú rận có thể rời sơ-mi tôi để du lịch ra cái chăn bông thoang thoảng nước hoa. Mọi hôm tôi vẫn đắp chăn chung với anh em thợ nhà in, cái giống ký sinh trùng hay phản chủ ấy, ở người tôi, không dám cam đoan là tuyệt nhiên không có.
Chị Hoàng thu dọn đồ đạc, đóng cửa, rồi đem một cây đèn to lại chỗ cây giường chúng tôi, lấy ra một cái chai. Anh Hoàng trông thấy, hỏi :
- Mình thắp đèn to đấy à ?
- Vâng, tôi đổ thêm dầu đã.
Anh Hoàng hỏi tôi :
- Anh có thích đọc Tam Quốc không ?
Tôi thú thật là chưa bao giờ được xem trọn bộ.
- Thế thì thật là đáng tiếc. Trong tất cả các tiểu thuyết Ðông Tây, có hai quyển tôi mê nhất là Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Về cái môn tiểu thuyết thì thằng Tàu nhất. Nhưng cũng chỉ có hai bộ ấy thôi. Thuỷ Hử cũng hay, chẳng kém Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Những tiểu thuyết khác hay đến đâu, anh cũng chỉ đọc một câu. Ðọc đến lần thứ hai là giảm thú rồi.
Nhưng Tam Quốc với Ðông Chu thì đọc đi đọc lại mãi vẫn thấy thú như mới đọc.
- Anh có hai bộ ấy ở đây không ?
- Bộ Ðông Chu mất ở Hà Nội, không đem đi được. Thế mới sầu đời chứ ! Hận quá, may mà bộ Tam Quốc lại để ở ngoại thành, đem đi được. Nếu không thì buồn đến chết.
Anh gạt tàn thuốc lá rồi bảo tiếp :
- Sở dĩ lúc này tôi hỏi anh là có thích đọc Tam Quốc không là vì mỗi tối trước khi đi ngủ, chúng tôi có cái thú đọc một vài hồi Tam Quốc rồi mới ngủ. Nhưng hôm nay anh không biết có nên bỏ cái lệ ấy đi không ? Nếu anh thích nói chuyện thì nghỉ một tối để chúng mình nói chuyện cũng chẳng sao.
Cố nhiên là tôi mời vợ chồng anh cứ giữ lệ thường. Anh có vẻ mừng rỡ lắm :
- Vâng, nếu anh cho phép thì ta cứ đọc. Chúng mình cùng nghe rồi lúc nào buồn ngủ thì ta ngủ. Tôi trông anh hơi mệt có lẽ cần ngủ sớm. Không biết đèn sáng lại đọc thế có phiền anh không ?
Tôi cho anh biết là tôi vẫn ngủ ngay trong nhà in, đèn sáng và máy chạy ầm ầm, ở đây chăn ấm thế này thì dẫu súng có nổ ngay ở liền bên tôi vẫn ngủ ngon lành lắm… Anh cười cùng cục trong cổ như một con gà trống :
- Vâng, thế thì ta cứ đọc. Mình lấy ra đi.
Chị Hoàng chạy lại bíp lấy một quyển sách bìa dày, gáy da, đem lại.
- Mình đọc hay tôi đọc ?
- Mình đọc đi.
Chị để cây đèn lên trên cái đôn thấp ở đầu giường, cởi áo dài lên giường nằm cạnh thằng con đã chui vào chăn trước.
- Hôm qua đọc đến đâu rồi nhỉ. Hình như…
- Không cần, mình đọc lại cái đoạn thằng Tào Tháo nó tán Quan Công ấy. Thế nào ? Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không ?
Tôi trả lời qua loa cho xong chuyện :
- Tôi thấy nói là nó giỏi.
- Giỏi lắm anh ạ ! Giỏi nhất Tam Quốc. Sao nó tài đến thế.
Chị Hoàng đã tìm thấy, bắt đầu cất tiếng thanh thanh đọc. Anh Hoàng vừa hút thuốc lá vừa nghe. Mỗi khi đọc đến đoạn hay anh lại vỗ đùi kêu :
- Tài thật ! Tài thật ! Tài đến thế là cùng ! Tiên sư anh Tào Tháo.
Năm 1948
Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011
Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học lịch sử
(Tiếp theo số 385 – 249. XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRÍ THỨC VIỆT NAM)
Trịnh Văn Thảo
ĐỂ LÀM SÁNG TỎ VÀI VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP VIẾT VÀ NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ (SOCIOLOGIE HISTORIQUE), TÁC GIẢ XIN MẠN PHÉP TÓM TẮT QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ CỦA MAX WEBER ĐÃ HƯỚNG DẪN, SONG SONG VỚI DUY VẬT SỬ QUAN, NHỮNG LUẬN ĐỀ CHÍNH KHAI TRIỂN TRONG BÀI NÀY.
Về phương pháp lịch sử theo Max Weber trích từ Wirrschaft und Gesellschaft(1) (Tubingen, 1956) trong đó tác giả triển khai về bốn tôn giáo châu Á: Bà la môn (Ấn Độ), Lão, Nho, Phật (Trung Quốc).
Phương pháp nghiên cứu xã hội học lịch sử của Max Weber khai triển giả thuyết theo đó hạt nhân duy lý của thuyết “Tin lành” dưới ảnh hưởng của nhà thần học Calvin phủ nhận mọi tin tưởng thần bí, dị đoan, nặng xu hướng cứu thế đã làm nền tảng ý thức hệ cho kinh tế tư bản vì “[...]đạo Tin lành, với tư cách một hệ thống giá trị có vai trò to lớn trong việc tổ chức hành động của một số tác nhân xã hội và làm nẩy sinh chủ nghĩa tư bản. Đó là do, một mặt, nhà doanh nghiệp thanh giáo tự ngăn cấm mình hưởng thụ những của cải tích luỹ được và, mặt khác, anh ta tìm thấy sứ mạng của mình và sự cứu rỗi của mình ở lao động”(2).
Nếu đọc lại Phác hoạ về xã hội học tôn giáo của tác giả, ta sẽ thấy tầm quan trọng của khái niệm “khắc khổ trong cõi đời” (ascetisme intramondain) trong sự kết hợp giữa ý thức hệ tôn giáo và phương thức sinh hoạt kinh tế.
Nói một cách khác, mô hình phát triển của Tư bản phương Tây không phải là một ngoại lệ mà chỉ là một quá trình tiến hoá lịch sử riêng trong dòng lịch sử chung của nhân loại, có thể so sánh và đối chiếu với những mô hình lịch sử khác như vai trò của đẳng cấp Bàlamôn trong quá trình phát triển kinh tế Ấn Độ, giai cấp Võ sĩ thời Minh Trị ở Nhật Bản hay Nho sĩ trong các xứ vùng Đông Nam Á thuộc “thế giới mới thuộc văn hoá Trung Hoa” (“le nouveau monde sinise” theo Leon Vandersmersch) như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… nửa cuối thế kỷ XX(3).
Tóm lại, công trình nghiên cứu của Max Weber đặc biệt chú trọng đến hai yếu tố cơ bản của ngành xã hội học lịch sử:
Nhận chân quá trình xã hội hoá (gia đình, giáo đường, học đường) con người, vị trí và vai trò xã hội của tầng lớp trí thức cầm quyền (scribe, clerc, rabbin, imam, brahmane…);
Tìm hiểu quan hệ giữa sinh hoạt kinh tế hướng về nhân sinh và những giá trị xuất phát từ ý thức hệ (tôn giáo) chính thống;
Sử gia phải nắm quan hệ hữu cơ giữa yếu tố vật chất (le materiel) và yếu tố tinh thần (l’ideel) trong cấu trúc giai cấp.
Ta cũng nên nhớ rằng tác giả không phải là sử gia chuyên về văn hoá châu Á và vì vậy đôi khi ông đưa ra một vài nhận xét bất ngờ đối với những sử gia chuyên môn vùng này. Cũng như Alexis de Tocqueville, ông vốn là một nhà Luật học và đã lớn lên trong một thời đại mà Bắc Mỹ đang trở thành một cường quốc Tây phương, một quốc gia tư bản với một chính thể tự do dân chủ tiên tiến. Mặc dù không sống cùng một thế hệ với những người như Karl Marx hay De Tocqueville, ông hấp thụ rất nhiều ảnh hưởng của Hegel và các triết gia thời Khải Minh (philosophes des Lumieres) ở châu Âu như Locke hay Montesquieu trong sự tìm hiểu, so sánh và đánh giá các hệ thống chính trị Đông Tây. Trên một phương diện nào đó, ta có thể xem tác phẩm chính của tác giả như một sự đóng góp và tranh luận gián tiếp với Marx về quan niệm Duy vật sử quan. Trong khi tác giả Tư Bản luận nhấn mạnh vai trò quyết định và khách quan của các lực lượng sản xuất, tổ chức và quan hệ sản xuất trong diễn tiến của xã hội, ông hướng tư duy về kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Âu Mỹ (nhất là hai cuộc cách mạng Mỹ và Pháp) để từ đó nhận định mối liên hệ tương quan giữa tôn giáo và thực tiễn “hướng về cuộc đời” của Con Người xã hội (l’être social). Khác với Marx, ông không xem mọi hành động cá nhân xuất phát từ những ảo ảnh hay thiên lệch định kiến, tôn giáo hay ý thức hệ(4) mà ngược lại ông khẳng định rằng mọi thực tiễn hữu thức đều thể hiện một ý nghĩa xã hội nhất định: nó phản ánh những giá trị tinh thần của Cộng đồng hay, nói theo sử gia Edward Thompson, của ý thức (conscience) hay văn hoá (culture) giai cấp. Không phải tự nhiên mà người theo đạo Tin Lành chịu khó làm ăn, dành dụm từng xu với ý định đầu tư vốn liếng, mở mang xí nghiệp, tìm kiếm thị trường chứ không để hưởng thụ, tiêu xài xa xỉ ngay sau đó… Theo ông, tác phong của nhà thầu tư bản theo Đạo Thánh nhằm chứng minh, một cách ý thức hay không ý thức, thiên chức cao quý của mình (vocation theo tiếng Pháp hay đúng hơn, từ tiếng Đức Beruf) trong xã hội qua sự thành công (hay thất bại) – đối với họ thực ra chẳng qua chỉ là một thử thách với Định mệnh. Chủ nghĩa Tư bản phương Tây hình thành nhờ sự hiện diện của giai cấp trưởng giả phối hợp những đức tính cần thiết để kinh doanh công thương nghiệp; cần cù, khắc khổ, duy lý và tin tưởng vào thuyết tiền định. Như vậy đối với tác giả, thực tiễn kinh tế chỉ thể hiện đầy đủ ý nghĩa xã hội khi nó “hướng (tinh thần, giáo lý) vào cuộc đời”, vào nhân sinh. Đối tượng chính của “Wirrtschaft und Gesellschaft” là áp dụng phương pháp xã hội vào sự tìm hiểu các xã hội Đông phương không nằm trong vùng ảnh hưởng văn hoá Do Thái – Ki tô giáo.
Theo tác giả, muốn lý giải mọi hiện tượng xã hội, nhà xã hội học phải luôn phối hợp động cơ chủ quan – mục tiêu và phương tiện thực tiễn – của cá nhân diễn viên và ý nghĩa xã hội lịch sử khách quan của giai cấp. Tức là đặt nguyên tắc suy luận theo đó cá nhân diễn vien cũng như cộng đồng giai cấp cùng chia sẻ chung một quá trình xã hội hoá lâu dài, duy nhất và tương tự. Vì vậy, tìm hiểu và nhận chân cơ cấu xã hội đòi hỏi thực hiện hai điều kiện: thứ nhất, định nghĩa qui chế và vai trò của thành phần trí thức lãnh đạo; thứ hai, xác định những giá trị tinh thần chỉ đạo sinh hoạt xã hội. Quan điểm này phải giải thích vì sao những nhà xã hội học cận và hiện đại như W.Sombart, J. Schumpeter hay F. Billeter hay các sử gia nhóm Annales Histoire sciênc sociale như F. Braudel hay G.Duby không hề tách rời một xã hội cụ thể với những giai cấp trí thức lãnh đạo: xã hội phong kiến châu Âu với lớp hiệp sĩ (chevalier), xã hội trưởng giả với giai cấp tư bản xí nghiệp, xã hội quan quyền (pouvoir mandarinal) Nho giáo Trung Quốc với lớp sĩ phu trường ốc(5).
“Về đoàn thể văn thân” trong các xã hội phương Đông thuộc nền văn hoá Trung Hoa. Xã hội Nho sĩ Trung Quốc
Từ hơn mười hai thế kỷ, địa vị xã hội của tầng lớp sĩ phu được sắp xếp đứng hàng đầu trong một xã hội nông nghiệp (sĩ, nông, công, thương) với sự công nhận của nhà nước quân chủ tập trung Trung Quốc (qua hệ thống hành chính) sau một thời gian được trui rèn nơi trường ốc và đỗ đạt theo thứ tự ở trường thi. Mặc dù chế độ thi cử bắt đầu được tổ chức vào thế kỷ thứ VIII đời Đường, chính sách tuyển chọn nhân tài qua trường thi chỉ hoàn tất dưới triều Tống (thế kỷ X) và từ đó kéo dài cho đến năm 1905 mới chấm dứt (hơn mười thế kỷ) (tr.161).
Tuy nhiên, sự hình thành của giai cấp sĩ phu là kết quả cuối cùng của một quá trình lịch sử lâu dài trước đó mà khởi điểm là sự thiết lập nền quân chủ tập trung chuyên chính của Tần Thuỷ Hoàng và với nó chính sách nhất thống biểu ý văn tự, nghĩa là một công cụ thống trị có tính chất huyền bí, duy thức và quan liêu. Do đó, dù nho sĩ xuất thân từ một hệ thống giáo dục thế tục anh ta vẫn có khả năng tiếp xúc với thần quyền và khám phá những huyền bí của thiên lý qua văn tự biểu ý(6).
Đời sống tôn giáo của Trung Quốc tuy không đả động đến đấng Thượng đế hay đấng Tạo hoá như các tôn giáo thuộc truyền thống Sách Kinh (Tân ước, Cựu ước, Coran) nhưng hầu hết người Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc đồng nhất giữa Thiên nhiên và Thần linh như một định luật hiển nhiên (Dịch Kinh, Đồng Trọng Thư).
Người Trung Quốc không có ý niệm về Luật Thiên nhiên, đấng Tạo hoá, thủ tục hành pháp (jurisprudence) Rô-ma, Tự nhiên học và Siêu hình học (tr.162).
Trong vũ trụ quan đó, đấng Tối thượng (pontifex maximus) là gạch nối (giữa vai trò trung gian) giữa Trời và Đất (thuyết thiên mệnh) cũng như sĩ phu (thần quân) là gạch nối giữa Minh Chủ (hoàng đế, vua) với thường dân. Sự thẩm định uy quyền (légitimation) được ban bố từ trên xuống dưới theo qui luật: Thiên => Địa => Nhân.
Địa vị của Quan chức đòi hỏi sĩ phu không những có khả năng văn học (và văn tự), mà còn phải biết sử dụng năng lực trên các khoa thiên văn, địa lý, thuỷ lợi…, tóm lại những kiến thức chuyên môn cần thiết cho việc cai quản sự vật và con người. Đồng thời với khái niệm “chức vụ”, sĩ phu Trung Quốc đã sáng tạo thực sự khái niệm “đạo đức chức vụ” và khái niệm “quyền lợi chung” làm nền tảng cho chế độ phân quyền (trung ương và địa phương) và quan quyền (9 phẩm, 18 bậc) (tr.164).
Lịch sử thời Thượng cổ Trung Quốc theo Khổng Tử khẳng định trong Kinh thi, Chu Kinh… ghi chép sự thay thế uy quyền quân sự (charisme guerrier) bằng uy quyền dân sự (charisme civil) trong chủ ý lấy lý tưởng “đại thuần” làm mẫu mực cho thế giới văn minh. Nó đánh dấu cáo chung của thời tuổi trẻ nhân loại (được thể hiện qua sức tàn phá, tính hiếu thắng và thiên tài quân sự) và thắng thế của kinh nghiệm và lý trí của tuổi trưởng thành (tr.170).
Tầng lớp quan lại kết hợp những công chức dân sự xuất thân từ các thành phần xã hội khác nhau đã trở thành, dưới thời quân chủ chuyên chế tập trung (thế kỷ III TCN), một giai cấp hỗn hợp bao gồm sĩ tử đỗ đạt đi tìm bổng lộc tuỳ theo học vị cao thấp thâu hái sau các kỳ thi tuyển, trong khi Ấn Độ giáo (Hindouisme) chỉ dành cho đẳng cấp Bàlamôn độc quyền giữ và giảng Kinh Vệ Đa. Do đó ta có thể xem chính sách tuyển chọn nhân tài bằng thi cử như một phương thức dung hoà nguyên tắc “mở rộng” và “khép chặt” của giai cấp thống trị thời Chiến Quốc.. (tr.172).
Trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc, nó phản ánh tương quan lực lượng giữa chính quyền quân sự và chính quyền nhân sự, giữa vùng Hoa Bắc (quân sự) và Hoa Nam (dân sự) được thể hiện dưới 3 dạng:
1. Quyền độc tôn thế ấm.
2. Quyền mở các ân khoa để tuyển chọn thư lại.
3. Thi cử chính thống để chọn người tài ra làm quan (tr.176).
Mục tiêu của giáo dục nhằm:
1. Tích luỹ đạo đức (dân sự và quân sự) và hiểu biết chuyên môn cần thiết cho việc cai trị (tr. 178).
2. Thấm nhuần những đức tính cơ bản của “người quân tử” (theo quan niệm “tam cương, ngũ thường” của Khổng Mạnh).
3. Tích luỹ vốn liếng văn tự theo nguyên tắc “học chữ trước khi học nghĩa”.
Cuối cùng, chế độ thi cử chỉ nhằm xác định sĩ tử có đạt hay không đạt được “sự am hiểu sâu sắc về văn học để suy tư theo người quân tử” (tr. 179).
Vì vậy, tính chất thế tục (laique) của giáo dục Khổng Mạnh khác với những mẫu hình thức giáo dục khác như:
Giáo dục Công giáo thời Trung cổ vì không giảng dạy các trường phái duy lý về thủ tục pháp luật, tôn giáo, thần học.
Giáo dục Hồi giáo cũng vì lý lẽ như trên (nghi nghĩa thần học và giáo điều học như Kitô giáo).
Giáo dục Do thái vì không dạy khoa chú giải (exégése) Thánh Kinh (Cựu ước).
Giáo dục Triết của Bàlamôn vì thiếu ngành triết học thuần lý, nghĩ lễ và thần pháp (Droit sacré) (tr.185).
Triết học Khổng Mạnh không sử dụng phép biện chứng, căn bản dựa vào chữ viết và hướng về những vấn đề thực dụng và bảo vệ quyền lợi của tập đoàn quan liêu thế tập (bureaucratie patrimoniale). Đồng thời, luật pháp Trung Quốc dựa vào thi hành thủ tục, trên nguyên tắc chế độ và phán lệ phụ quyền (jurisprudence patrimoniale) (tr.186).
Thiên chức quan lại (vocation mandarinale) tuy thế vẫn không mất tính giáo chức (sacerdoce) và đòi hỏi người tại chức cố gắng không ngừng tu thân, tự cảnh, tự giác để không làm mai một đạo đức và chính nghĩa quân tử. Trong mục đích đó, họ được hưởng:
Quyền miễn thuế, bổng lộc vua ban cho, quyền được miễn án nhục hình (tr.188): “Bên Tàu, người ta cũng không chỉ cai trị bằng thi văn. Nhưng quan lại theo qui chế bổng lộc phải củng cố thiên chức, uy tín của mình bằng tác phong nghiêm túc thể hiện qua cách hành văn vì nó rất quan trọng trong quan hệ chính thức giữa nhà nước với thường dân”.
Để áp đặt sự kiểm soát xã hội trên tầng lớp quan lại, nhà nước quân chủ chuyên chế có quyền công bố “hồ sơ cá nhân” ghi lại diễn tiến trong quan trường và mọi hành động trong đời y: cử hành tang lễ, tôn trọng nguyên tắc hồi tị (phân cách quê hương với nơi nhâm chức)… biến quan nghiệp thành một tình trạng bấp bênh, căng thẳng. Hơn nữa, kẻ sĩ còn bị áp lực cung cầu rất hiếm hoi của thị trường quan lại (tr.192).
Đạo đức kinh tế quan lại hướng về nông nghiệp trọng yếu và tác phong của nhà nước phụ quyền lấy nguyên tắc “khắc khổ phụ mẫu” (ascétisme patriarcal) làm gốc, tránh lãng phí của chung, điều hoà sản xuất và kiểm soát chặt chẽ thị trường nông sản, tích cốc phòng cơ, xây cất đê điều, phân chia ruộng đất, bảo đảm chế độ điền địa. Nó rất đố kỵ mại bản và thành phần thương gia, không cho tầng lớp tư sản công nghiệp ngóc đầu (tr.199).
Vì nguyên tắc Đại Thuận và Truyền thống (chống phong kiến quân sự thời Chiến Quốc), nhóm quan lại cũng công kích xu hướng giao phó cho đàn bà (sultanisme) hay hoạn quan (ennuque) làm nhiếp chính trong triều đình cùng mọi xu hướng để quân sự xâm nhập cơ cấu hành chính (tr.200).
(Xem tiếp kỳ sau)
CHÚ THÍCH
1. Tạm dịch là “Kinh tế và xã hội”.
2. N. K. Viện (chủ biên), Từ điển xã hội học, Hà Nội, Nxb Thế giới, 1994.
3. Như Raymond Aron (Etapes de la pensée sociologique, Paris, Gallimard, 1967) hay Muchio Morishima (Capitalisme et confucianisme au Japon, Paris, Flammarion, 1987).
4. Như Mác quan niệm trong Ý thức hệ Đức (1844).
5. Những giả thuyết của ông trích từ chương V: “Đoàn thể văn thân” và chương VI: “Xu hướng Khổng Mạnh trong cuộc sống” trong – bản dịch tiếng Pháp do Gallimard xuất bản năm 2000 (để tiện việc kiểm soát) – có thể giúp ta suy tư về vai trò của Nho giáo tại Việt Nam.
6. Như vậy là đối với tác giả, biểu tự của Trung Quốc có liên hệ với thần bí vì nó được cấu tạo từ những nét gạch nối, hình tượng trong mu rùa mà các đạo sĩ thời Chiến quốc diễn ý và làm công cụ tham mưu. Phát triển của biểu tự cũng tiến hành song song với sự thắng thế của Nho sĩ trong xã hội Trung Quốc từ đời Tiền Hán. Xem Marcel Granet, La religion des Chinois, Paris, Ed. Imago, 1989.
Theo Blog ANHBASAM
Trịnh Văn Thảo
ĐỂ LÀM SÁNG TỎ VÀI VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP VIẾT VÀ NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ (SOCIOLOGIE HISTORIQUE), TÁC GIẢ XIN MẠN PHÉP TÓM TẮT QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ CỦA MAX WEBER ĐÃ HƯỚNG DẪN, SONG SONG VỚI DUY VẬT SỬ QUAN, NHỮNG LUẬN ĐỀ CHÍNH KHAI TRIỂN TRONG BÀI NÀY.
Về phương pháp lịch sử theo Max Weber trích từ Wirrschaft und Gesellschaft(1) (Tubingen, 1956) trong đó tác giả triển khai về bốn tôn giáo châu Á: Bà la môn (Ấn Độ), Lão, Nho, Phật (Trung Quốc).
Phương pháp nghiên cứu xã hội học lịch sử của Max Weber khai triển giả thuyết theo đó hạt nhân duy lý của thuyết “Tin lành” dưới ảnh hưởng của nhà thần học Calvin phủ nhận mọi tin tưởng thần bí, dị đoan, nặng xu hướng cứu thế đã làm nền tảng ý thức hệ cho kinh tế tư bản vì “[...]đạo Tin lành, với tư cách một hệ thống giá trị có vai trò to lớn trong việc tổ chức hành động của một số tác nhân xã hội và làm nẩy sinh chủ nghĩa tư bản. Đó là do, một mặt, nhà doanh nghiệp thanh giáo tự ngăn cấm mình hưởng thụ những của cải tích luỹ được và, mặt khác, anh ta tìm thấy sứ mạng của mình và sự cứu rỗi của mình ở lao động”(2).
Nếu đọc lại Phác hoạ về xã hội học tôn giáo của tác giả, ta sẽ thấy tầm quan trọng của khái niệm “khắc khổ trong cõi đời” (ascetisme intramondain) trong sự kết hợp giữa ý thức hệ tôn giáo và phương thức sinh hoạt kinh tế.
Nói một cách khác, mô hình phát triển của Tư bản phương Tây không phải là một ngoại lệ mà chỉ là một quá trình tiến hoá lịch sử riêng trong dòng lịch sử chung của nhân loại, có thể so sánh và đối chiếu với những mô hình lịch sử khác như vai trò của đẳng cấp Bàlamôn trong quá trình phát triển kinh tế Ấn Độ, giai cấp Võ sĩ thời Minh Trị ở Nhật Bản hay Nho sĩ trong các xứ vùng Đông Nam Á thuộc “thế giới mới thuộc văn hoá Trung Hoa” (“le nouveau monde sinise” theo Leon Vandersmersch) như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… nửa cuối thế kỷ XX(3).
Tóm lại, công trình nghiên cứu của Max Weber đặc biệt chú trọng đến hai yếu tố cơ bản của ngành xã hội học lịch sử:
Nhận chân quá trình xã hội hoá (gia đình, giáo đường, học đường) con người, vị trí và vai trò xã hội của tầng lớp trí thức cầm quyền (scribe, clerc, rabbin, imam, brahmane…);
Tìm hiểu quan hệ giữa sinh hoạt kinh tế hướng về nhân sinh và những giá trị xuất phát từ ý thức hệ (tôn giáo) chính thống;
Sử gia phải nắm quan hệ hữu cơ giữa yếu tố vật chất (le materiel) và yếu tố tinh thần (l’ideel) trong cấu trúc giai cấp.
Ta cũng nên nhớ rằng tác giả không phải là sử gia chuyên về văn hoá châu Á và vì vậy đôi khi ông đưa ra một vài nhận xét bất ngờ đối với những sử gia chuyên môn vùng này. Cũng như Alexis de Tocqueville, ông vốn là một nhà Luật học và đã lớn lên trong một thời đại mà Bắc Mỹ đang trở thành một cường quốc Tây phương, một quốc gia tư bản với một chính thể tự do dân chủ tiên tiến. Mặc dù không sống cùng một thế hệ với những người như Karl Marx hay De Tocqueville, ông hấp thụ rất nhiều ảnh hưởng của Hegel và các triết gia thời Khải Minh (philosophes des Lumieres) ở châu Âu như Locke hay Montesquieu trong sự tìm hiểu, so sánh và đánh giá các hệ thống chính trị Đông Tây. Trên một phương diện nào đó, ta có thể xem tác phẩm chính của tác giả như một sự đóng góp và tranh luận gián tiếp với Marx về quan niệm Duy vật sử quan. Trong khi tác giả Tư Bản luận nhấn mạnh vai trò quyết định và khách quan của các lực lượng sản xuất, tổ chức và quan hệ sản xuất trong diễn tiến của xã hội, ông hướng tư duy về kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Âu Mỹ (nhất là hai cuộc cách mạng Mỹ và Pháp) để từ đó nhận định mối liên hệ tương quan giữa tôn giáo và thực tiễn “hướng về cuộc đời” của Con Người xã hội (l’être social). Khác với Marx, ông không xem mọi hành động cá nhân xuất phát từ những ảo ảnh hay thiên lệch định kiến, tôn giáo hay ý thức hệ(4) mà ngược lại ông khẳng định rằng mọi thực tiễn hữu thức đều thể hiện một ý nghĩa xã hội nhất định: nó phản ánh những giá trị tinh thần của Cộng đồng hay, nói theo sử gia Edward Thompson, của ý thức (conscience) hay văn hoá (culture) giai cấp. Không phải tự nhiên mà người theo đạo Tin Lành chịu khó làm ăn, dành dụm từng xu với ý định đầu tư vốn liếng, mở mang xí nghiệp, tìm kiếm thị trường chứ không để hưởng thụ, tiêu xài xa xỉ ngay sau đó… Theo ông, tác phong của nhà thầu tư bản theo Đạo Thánh nhằm chứng minh, một cách ý thức hay không ý thức, thiên chức cao quý của mình (vocation theo tiếng Pháp hay đúng hơn, từ tiếng Đức Beruf) trong xã hội qua sự thành công (hay thất bại) – đối với họ thực ra chẳng qua chỉ là một thử thách với Định mệnh. Chủ nghĩa Tư bản phương Tây hình thành nhờ sự hiện diện của giai cấp trưởng giả phối hợp những đức tính cần thiết để kinh doanh công thương nghiệp; cần cù, khắc khổ, duy lý và tin tưởng vào thuyết tiền định. Như vậy đối với tác giả, thực tiễn kinh tế chỉ thể hiện đầy đủ ý nghĩa xã hội khi nó “hướng (tinh thần, giáo lý) vào cuộc đời”, vào nhân sinh. Đối tượng chính của “Wirrtschaft und Gesellschaft” là áp dụng phương pháp xã hội vào sự tìm hiểu các xã hội Đông phương không nằm trong vùng ảnh hưởng văn hoá Do Thái – Ki tô giáo.
Theo tác giả, muốn lý giải mọi hiện tượng xã hội, nhà xã hội học phải luôn phối hợp động cơ chủ quan – mục tiêu và phương tiện thực tiễn – của cá nhân diễn viên và ý nghĩa xã hội lịch sử khách quan của giai cấp. Tức là đặt nguyên tắc suy luận theo đó cá nhân diễn vien cũng như cộng đồng giai cấp cùng chia sẻ chung một quá trình xã hội hoá lâu dài, duy nhất và tương tự. Vì vậy, tìm hiểu và nhận chân cơ cấu xã hội đòi hỏi thực hiện hai điều kiện: thứ nhất, định nghĩa qui chế và vai trò của thành phần trí thức lãnh đạo; thứ hai, xác định những giá trị tinh thần chỉ đạo sinh hoạt xã hội. Quan điểm này phải giải thích vì sao những nhà xã hội học cận và hiện đại như W.Sombart, J. Schumpeter hay F. Billeter hay các sử gia nhóm Annales Histoire sciênc sociale như F. Braudel hay G.Duby không hề tách rời một xã hội cụ thể với những giai cấp trí thức lãnh đạo: xã hội phong kiến châu Âu với lớp hiệp sĩ (chevalier), xã hội trưởng giả với giai cấp tư bản xí nghiệp, xã hội quan quyền (pouvoir mandarinal) Nho giáo Trung Quốc với lớp sĩ phu trường ốc(5).
“Về đoàn thể văn thân” trong các xã hội phương Đông thuộc nền văn hoá Trung Hoa. Xã hội Nho sĩ Trung Quốc
Từ hơn mười hai thế kỷ, địa vị xã hội của tầng lớp sĩ phu được sắp xếp đứng hàng đầu trong một xã hội nông nghiệp (sĩ, nông, công, thương) với sự công nhận của nhà nước quân chủ tập trung Trung Quốc (qua hệ thống hành chính) sau một thời gian được trui rèn nơi trường ốc và đỗ đạt theo thứ tự ở trường thi. Mặc dù chế độ thi cử bắt đầu được tổ chức vào thế kỷ thứ VIII đời Đường, chính sách tuyển chọn nhân tài qua trường thi chỉ hoàn tất dưới triều Tống (thế kỷ X) và từ đó kéo dài cho đến năm 1905 mới chấm dứt (hơn mười thế kỷ) (tr.161).
Tuy nhiên, sự hình thành của giai cấp sĩ phu là kết quả cuối cùng của một quá trình lịch sử lâu dài trước đó mà khởi điểm là sự thiết lập nền quân chủ tập trung chuyên chính của Tần Thuỷ Hoàng và với nó chính sách nhất thống biểu ý văn tự, nghĩa là một công cụ thống trị có tính chất huyền bí, duy thức và quan liêu. Do đó, dù nho sĩ xuất thân từ một hệ thống giáo dục thế tục anh ta vẫn có khả năng tiếp xúc với thần quyền và khám phá những huyền bí của thiên lý qua văn tự biểu ý(6).
Đời sống tôn giáo của Trung Quốc tuy không đả động đến đấng Thượng đế hay đấng Tạo hoá như các tôn giáo thuộc truyền thống Sách Kinh (Tân ước, Cựu ước, Coran) nhưng hầu hết người Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc đồng nhất giữa Thiên nhiên và Thần linh như một định luật hiển nhiên (Dịch Kinh, Đồng Trọng Thư).
Người Trung Quốc không có ý niệm về Luật Thiên nhiên, đấng Tạo hoá, thủ tục hành pháp (jurisprudence) Rô-ma, Tự nhiên học và Siêu hình học (tr.162).
Trong vũ trụ quan đó, đấng Tối thượng (pontifex maximus) là gạch nối (giữa vai trò trung gian) giữa Trời và Đất (thuyết thiên mệnh) cũng như sĩ phu (thần quân) là gạch nối giữa Minh Chủ (hoàng đế, vua) với thường dân. Sự thẩm định uy quyền (légitimation) được ban bố từ trên xuống dưới theo qui luật: Thiên => Địa => Nhân.
Địa vị của Quan chức đòi hỏi sĩ phu không những có khả năng văn học (và văn tự), mà còn phải biết sử dụng năng lực trên các khoa thiên văn, địa lý, thuỷ lợi…, tóm lại những kiến thức chuyên môn cần thiết cho việc cai quản sự vật và con người. Đồng thời với khái niệm “chức vụ”, sĩ phu Trung Quốc đã sáng tạo thực sự khái niệm “đạo đức chức vụ” và khái niệm “quyền lợi chung” làm nền tảng cho chế độ phân quyền (trung ương và địa phương) và quan quyền (9 phẩm, 18 bậc) (tr.164).
Lịch sử thời Thượng cổ Trung Quốc theo Khổng Tử khẳng định trong Kinh thi, Chu Kinh… ghi chép sự thay thế uy quyền quân sự (charisme guerrier) bằng uy quyền dân sự (charisme civil) trong chủ ý lấy lý tưởng “đại thuần” làm mẫu mực cho thế giới văn minh. Nó đánh dấu cáo chung của thời tuổi trẻ nhân loại (được thể hiện qua sức tàn phá, tính hiếu thắng và thiên tài quân sự) và thắng thế của kinh nghiệm và lý trí của tuổi trưởng thành (tr.170).
Tầng lớp quan lại kết hợp những công chức dân sự xuất thân từ các thành phần xã hội khác nhau đã trở thành, dưới thời quân chủ chuyên chế tập trung (thế kỷ III TCN), một giai cấp hỗn hợp bao gồm sĩ tử đỗ đạt đi tìm bổng lộc tuỳ theo học vị cao thấp thâu hái sau các kỳ thi tuyển, trong khi Ấn Độ giáo (Hindouisme) chỉ dành cho đẳng cấp Bàlamôn độc quyền giữ và giảng Kinh Vệ Đa. Do đó ta có thể xem chính sách tuyển chọn nhân tài bằng thi cử như một phương thức dung hoà nguyên tắc “mở rộng” và “khép chặt” của giai cấp thống trị thời Chiến Quốc.. (tr.172).
Trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc, nó phản ánh tương quan lực lượng giữa chính quyền quân sự và chính quyền nhân sự, giữa vùng Hoa Bắc (quân sự) và Hoa Nam (dân sự) được thể hiện dưới 3 dạng:
1. Quyền độc tôn thế ấm.
2. Quyền mở các ân khoa để tuyển chọn thư lại.
3. Thi cử chính thống để chọn người tài ra làm quan (tr.176).
Mục tiêu của giáo dục nhằm:
1. Tích luỹ đạo đức (dân sự và quân sự) và hiểu biết chuyên môn cần thiết cho việc cai trị (tr. 178).
2. Thấm nhuần những đức tính cơ bản của “người quân tử” (theo quan niệm “tam cương, ngũ thường” của Khổng Mạnh).
3. Tích luỹ vốn liếng văn tự theo nguyên tắc “học chữ trước khi học nghĩa”.
Cuối cùng, chế độ thi cử chỉ nhằm xác định sĩ tử có đạt hay không đạt được “sự am hiểu sâu sắc về văn học để suy tư theo người quân tử” (tr. 179).
Vì vậy, tính chất thế tục (laique) của giáo dục Khổng Mạnh khác với những mẫu hình thức giáo dục khác như:
Giáo dục Công giáo thời Trung cổ vì không giảng dạy các trường phái duy lý về thủ tục pháp luật, tôn giáo, thần học.
Giáo dục Hồi giáo cũng vì lý lẽ như trên (nghi nghĩa thần học và giáo điều học như Kitô giáo).
Giáo dục Do thái vì không dạy khoa chú giải (exégése) Thánh Kinh (Cựu ước).
Giáo dục Triết của Bàlamôn vì thiếu ngành triết học thuần lý, nghĩ lễ và thần pháp (Droit sacré) (tr.185).
Triết học Khổng Mạnh không sử dụng phép biện chứng, căn bản dựa vào chữ viết và hướng về những vấn đề thực dụng và bảo vệ quyền lợi của tập đoàn quan liêu thế tập (bureaucratie patrimoniale). Đồng thời, luật pháp Trung Quốc dựa vào thi hành thủ tục, trên nguyên tắc chế độ và phán lệ phụ quyền (jurisprudence patrimoniale) (tr.186).
Thiên chức quan lại (vocation mandarinale) tuy thế vẫn không mất tính giáo chức (sacerdoce) và đòi hỏi người tại chức cố gắng không ngừng tu thân, tự cảnh, tự giác để không làm mai một đạo đức và chính nghĩa quân tử. Trong mục đích đó, họ được hưởng:
Quyền miễn thuế, bổng lộc vua ban cho, quyền được miễn án nhục hình (tr.188): “Bên Tàu, người ta cũng không chỉ cai trị bằng thi văn. Nhưng quan lại theo qui chế bổng lộc phải củng cố thiên chức, uy tín của mình bằng tác phong nghiêm túc thể hiện qua cách hành văn vì nó rất quan trọng trong quan hệ chính thức giữa nhà nước với thường dân”.
Để áp đặt sự kiểm soát xã hội trên tầng lớp quan lại, nhà nước quân chủ chuyên chế có quyền công bố “hồ sơ cá nhân” ghi lại diễn tiến trong quan trường và mọi hành động trong đời y: cử hành tang lễ, tôn trọng nguyên tắc hồi tị (phân cách quê hương với nơi nhâm chức)… biến quan nghiệp thành một tình trạng bấp bênh, căng thẳng. Hơn nữa, kẻ sĩ còn bị áp lực cung cầu rất hiếm hoi của thị trường quan lại (tr.192).
Đạo đức kinh tế quan lại hướng về nông nghiệp trọng yếu và tác phong của nhà nước phụ quyền lấy nguyên tắc “khắc khổ phụ mẫu” (ascétisme patriarcal) làm gốc, tránh lãng phí của chung, điều hoà sản xuất và kiểm soát chặt chẽ thị trường nông sản, tích cốc phòng cơ, xây cất đê điều, phân chia ruộng đất, bảo đảm chế độ điền địa. Nó rất đố kỵ mại bản và thành phần thương gia, không cho tầng lớp tư sản công nghiệp ngóc đầu (tr.199).
Vì nguyên tắc Đại Thuận và Truyền thống (chống phong kiến quân sự thời Chiến Quốc), nhóm quan lại cũng công kích xu hướng giao phó cho đàn bà (sultanisme) hay hoạn quan (ennuque) làm nhiếp chính trong triều đình cùng mọi xu hướng để quân sự xâm nhập cơ cấu hành chính (tr.200).
(Xem tiếp kỳ sau)
CHÚ THÍCH
1. Tạm dịch là “Kinh tế và xã hội”.
2. N. K. Viện (chủ biên), Từ điển xã hội học, Hà Nội, Nxb Thế giới, 1994.
3. Như Raymond Aron (Etapes de la pensée sociologique, Paris, Gallimard, 1967) hay Muchio Morishima (Capitalisme et confucianisme au Japon, Paris, Flammarion, 1987).
4. Như Mác quan niệm trong Ý thức hệ Đức (1844).
5. Những giả thuyết của ông trích từ chương V: “Đoàn thể văn thân” và chương VI: “Xu hướng Khổng Mạnh trong cuộc sống” trong – bản dịch tiếng Pháp do Gallimard xuất bản năm 2000 (để tiện việc kiểm soát) – có thể giúp ta suy tư về vai trò của Nho giáo tại Việt Nam.
6. Như vậy là đối với tác giả, biểu tự của Trung Quốc có liên hệ với thần bí vì nó được cấu tạo từ những nét gạch nối, hình tượng trong mu rùa mà các đạo sĩ thời Chiến quốc diễn ý và làm công cụ tham mưu. Phát triển của biểu tự cũng tiến hành song song với sự thắng thế của Nho sĩ trong xã hội Trung Quốc từ đời Tiền Hán. Xem Marcel Granet, La religion des Chinois, Paris, Ed. Imago, 1989.
Theo Blog ANHBASAM
Trịnh Viên Phương - Những lần chạy án (Phần 1 và 2)
My Blog: Ở đây không nói về bộ phim "Chạy án" có một thời được chiếu trên VTV, mà là nói hiện tượng chạy án thật. Tác giả bài viết là người trực tiếp tham gia chạy án. Lúc đầu chạy cho người thân, nhưng sau đó chắc cũng tham gia như là một phần của một loại dịch vụ "bất công nhất trong các loại bất công" của chế chế độ này.Trò đời, tuy nói là tham gia làm dịch vụ chạy án song về thực chất cũng là một loại lao động - lao động đặc biệt, làm môi giới cho các tiêu cực liên quan đến pháp luật. Nhưng đã là người lao động thìcho dù là người nông dân đầu tắt mặt tối, đến anh công nhân còng lưng mang vác nặng nhọc, hay đến bọn con phe, những anh trí thức nửa mùa thì không chỉ vất vả mà đôi khi kiếm được miếng cơm cũng nhục lắm.Dù nhục nên đôi khi vì miếng cơm manh áo mà họ không dám kêu ca và thường là im lặng trước sự chà đạp của bọn thống trị, bóc lột, bọn quan tham và lũ gia nô quen thói ăn trên, ngồi chốc. Nhưng, như tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã từng nói: đến "con giun xéo mãi cũng phải oằn", huống chi con người.
Thế nên, khi nghe nói ông Huỳnh Ngọc Sỹ viên tham quan nổi tiếng trong vụ CPI đại lội Đông Tây TP.HCM được Tòa án NDTC tuyên giảm án từ chung thân (phiến sơ thẩm) đến 20 năm trong phiên phúc thẩm thì tác giả mới bật lên sự bức xúc để nói lên sự thật.
Những lần chạy án (phần 1)
Trịnh Viên Phương
Vụ án tham nhũng tày đình Huỳnh Ngọc Sĩ cuối cùng thì cũng kết cục rất là nhẹ nhàng: ông Huỳnh Ngọc Sĩ được hạ từ án chung thân thành 20 năm. Tức là từ vô thời hạn thành án có thời hạn. Nhìn qua ai cũng dễ ngộ nhận là thích đáng với một tên phạm tội tham nhũng, 20 năm còn gì? Nhưng dưới cái nhìn của một người từng đi chạy án tôi biết chắc chắn rằng: vụ án này đã được CHẠY. Với bản án này thì ông Huỳnh Ngọc Sỹ chỉ đi tù 6 năm là vui thú điền viên. Giờ đây tôi không im lặng nữa mà lên tiếng. Tôi xin gởi đến Dân Làm Báo những sự thật trong các lần chạy án của tôi. Nó liên quan đến nhiều người và nhiều vụ khác nhau. Tôi xin kể lại dưới dạng nhiều bài viết mà Dân Làm Báo có thể coi là nhiều phóng sự cũng được. Vì sự an ninh tính mạng cho cá nhân tôi và nhiều nhân chứng khác đang sống ngay giữa Sài Gòn và Hà Nội chúng tôi chỉ viết thật tên những quan tòa hay cán bộ VKS Tối cao từng nhận tiền của tôi, còn những nhân vật khác tạm thời chúng tôi xin được thay tên đổi họ.
Rất mong Dân Làm Báo quan tâm và hiểu rõ tâm trạng của tôi. Hoàn toàn không phải "chỉ đường hươu chạy" mà qua đây tôi muốn vạch mặt những tên quan tòa thối nát, những cán bộ VKSTC tham nhũng. Chính vì những con người này mà nhiều gia đình tiêu tán. Kẻ ác thì lọt tội và người ngay thẳng bị hại.
Tôi kể những kinh nghiệm chạy án này như một lời sám hối. Nói ra cho nhẹ nhàng. Có nhắm mắt thì cũng ra đi thảnh thơi.
Vụ thứ nhất : Ngân hàng G.
Thời điểm cuối thập niên 80 thế kỷ trước các HTX tín dụng thay nhau phá sản do ảnh hưởng nhiều vụ như là nước hoa Thanh Hương. Ngân hàng thương mại G. ra đời trong bối cảnh nâng khống số tiền vốn pháp định mà cũng do "chạy" mới nâng cấp lên thành ngân hàng. Thời điểm này số ngân hàng trên địa bàn thành phố đếm trên đầu ngón tay. Chúng tôi bỏ qua những chuyện liên quan đến kinh doanh ngân hàng giai đoạn này mà chỉ nói đến việc liên quan đến chạy án. Số tiền thất thoát vào giai đoạn này trên nhiều tỷ đồng. Đổ vỡ của ngân hàng G ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động tài chính không chỉ trên địa bàn thành phố mà cả nước thời bấy giờ. Dĩ nhiên là tất cả các nhân sự của ngân hàng G. phải vào tù. Vụ án này xử đến xử lui nhiều lần gây tốn kém nhiều bút mực của báo giới cái thời báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên mỗi tuần chỉ có 1 số rồi lên 2 số. Có một án tử hình và nhiều án chung thân trong vụ này. Chúng tôi tham gia chạy án cho một người bị kết tội chung thân.
Khi người nhà chúng tôi bị bắt thì đương nhiên cả dòng họ vào cuộc chạy án. Giai đoạn điều tra thì chạy cho công an kinh tế từ Bộ Nội Vụ (lúc này chưa tách công an và quốc phòng thành 2 bộ). Phải nói là giai đoạn này là tốn tiền nhiều nhất do chưa biết đường đi nước bước và chưa có các mối liên hệ. Mọi giao dịch của chúng tôi thông qua nhân vật tên là Dũng. Anh ta là con rể của một người họ hàng bên vợ của ông Lê Đức Anh. Chính ông Dũng này giới thiệu cho gia đình chúng tôi biết ông Việt hiện làm tổng biên tập tạp chí kiểm sát thuộc VKSTC có trụ sở ở 44 Lý Thường Kiệt- Hà Nội. Những đường đi nước bước của chúng tôi là do 2 ông này phối hợp và chỉ cách chạy án. Các ông này chỉ cho chúng tôi chia nhỏ vụ án ra nhiều khúc mà chạy:
1. Giai đoạn điều tra chạy để cho số tiền thất thoát ít bớt xuống hòng chuyển đổi tội danh. Mọi giao dịch khâu này do ông Dũng chạy. Tôi nhớ là nhà của ông Dũng trong chung cư Bộ Nội Vụ số 237 Nguyễn Văn Cư- Quận 1, SG.
2. Kết thúc điều tra chuyển qua VKS thì chạy để cho VKS truy tố tội danh nhẹ hơn.
3. Xét xử sơ thẩm chạy cho án tử hình thành án chung thân.
4. Xét xử phúc thẩm chạy từ án chung thân thành án 20 năm.
5. Trong trại giam thì chạy án để trưởng trại giam ký lệnh giảm án và quay trở lại tòa án để chánh án chấp nhận.
Bây giờ nói thì dễ nhưng các giai đoạn đó chung chi rất mệt. Không như thời nay trong các lần chạy án thì chỉ việc chuyển tiền vào tài khoản của các nhân vật này. Bây giờ thì tham nhũng tinh vi hơn nhưng lúc đó thì chồng tiền mặt. Đem đến tận nhà giao còn ăn cơm với gia đình của họ nữa.
Trong vụ án của chúng tôi thì những nhân vật sau liên quan đến chuyện nhận tiền của chúng tôi:
1. Giai đoạn điều tra chúng tôi chạy tiền qua ông Dũng ở trong khu tập thể Bộ Nội Vụ (bây giờ là Bộ công an) số 237 Nguyễn Văn Cừ. Ông Dũng lo luôn chạy bên VKS người nhận tiền tên là ông Bộng, bây giờ là chồng Luật Sư Hoàng Mỹ trên đường Võ Thị Sáu.
2. Giai đoạn xét xử sơ thẩm chúng tôi chạy tiền cho thẩm phán Sáu nhà ở gần chợ Bến Thành.
3. Giai đoạn phúc thẩm chúng tôi chạy tiền cho thẩm phán Tấn ở Quận 4.
4. Giai đoạn thi hành án chúng tôi chạy tiền cho ông Nguyễn Trung Binh trưởng trại giam Z30 A ở Xuân Lộc, Đồng Nai.
Mọi giao dịch ở Hà Nội và cả những bài báo trên tạp chí Kiểm Sát thì chúng tôi rất tốn kém cho ông Việt. kể cả những chuyến công tác trong Miền Nạm đi chơi với em út thì ông Việt luôn ép gia đình chúng tôi chung chi. Chính việc tiếp xúc với ông Việt này mà chúng tôi đã có nhiều mối quan hệ quen biết ở Hà Nội trong những lần chạy án tiếp theo.
Dựa vào kinh nghiệm chạy án của tôi thì trường hợp của ông Huỳnh Ngọc Sỹ bây giờ cũng đã được chạy án theo chiến thuật sau:
Tử hình xuống chung thân.
Chung thân xuống 20 năm.
20 năm ra trại thì chỉ 7 năm( tức 1/3 án ) sẽ về nhà.
Những lần chạy án - Phần 2:
Phần 2: KHI LUẬT SƯ CŨNG CHẠY ÁN
Kinh nghiệm trong lần chạy án trước và rành đường đi nước bước ở Hà Nội nên người thân và bạn bè ai cũng biết chuyện tôi từng đi chạy án. Do vậy khi mà các bản án phúc thẩm trong Miền Nam có hiệu lực thì nhiều người nhờ tôi "chạy". Một người bà con xa của tôi ở Huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre thua kiện trong vụ tranh chấp quyền sử dụng đất. Người này thua kiện vì ỷ lại mình là luật sư biết nhiều luật nên không cần chạy. Kết cục là thua ở 2 phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm ở Bến Tre. Anh luật sư này lên Sài Gòn và nhờ tôi cùng "chạy án".
Chúng tôi ra Hà Nội và mùa đông năm 2004. Lúc đó phòng tiếp dân của Tòa án Tối Cao (TATC) vẫn còn ở 48 Lý Thường Kiệt chưa bị đưa về 265 Đội Cần như hiện nay. Đây là vụ án dân sự nên nhờ Tòa dân sự của TATC can thiệp. Như bao người khiếu nại lên Giám đốc thẩm, các bản án Phúc thẩm đã có hiệu lực chúng tôi ùn ùn kéo về 48 Lý Thường kiệt. Người nhận đơn khiếu nại là bà Tuyết (bây giờ là thẩm phán của TA Hà Nội), lúc đó bà Tuyết còn ngồi ở phòng tiếp dân. Phòng tiếp dân sau khi nhận đơn và cho bạn một tờ chứng nhận là Phòng tiếp dân của TATC đã nhận được đơn khiếu nại án phúc thẩm số... của tòa án tỉnh... ngày... Bà Tuyết hỏi tôi có quen ai ở Viện KSTC ở HN không? Tôi thành thật trả lời là có quen với ông Việt nhưng làm bên báo kiểm sát. Bà Tuyết chỉ đường là chạy qua đó xin họ cái kháng nghị đi. Tôi chạy qua bên VKSTC thì cũng vào được phòng tiếp dân. Cảm giác của tôi sau 1 thời gian quay lại những nơi này thì khó chịu vì ở phòng tiếp dân của TATC và VKSTC luôn gắn camera theo dõi người dân đi nộp đơn. Dân chúng khắp 64 tỉnh thành bị xử oan ức đầy đủ "4 phương trời ta về đây chung vui".
Chúng tôi về nhà nghĩ chờ không biết bao lâu. Gặp đủ các dân oan như chị Kiều Chinh ở Lào Cai, Bà Ngọc Anh ở Tiền Giang, Mẹ con bà Phương ở Pleiku, bà Bảy ở Long An, Ông Sùng Sao Vàng ở Sơn La, chị Thủy ở Quảng Ngãi, chị Nga ở Vĩnh Long. Ai cũng ở đây trên 2-3 năm nghe mà ngao ngán quá chừng. Về miền nam mà chưa có cái gì ngoài cái chứng nhận của phòng tiếp dân thì không thể về được. Phải vận dụng hết các mối quen biết để gặp cho được cán bộ của tòa dân sự TATC.
Rồi chúng tôi cũng tìm đến nhà ông Phạm Thanh Bình, chánh tòa dân sự TATC. Nhà của ông Bình trong hẻm số 6 Phố Nhà Chung, đối diện với vườn hoa ngày nay mà trước đây là khu đất bỏ hoang gần Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ông Bình hỏi ai giới thiệu đến. Chúng tôi nói thật là một người quen chỉ đường. Ông Bình tiếp chúng tôi khá lâu. Chúng tôi nói đã nộp đơn vào phòng tiếp dân rồi. Ông Bình nhép miệng cười. Chúng tôi ra về sau khi để lại cho ông ta một bịch trái cây trong đó có phong bì 20 triệu đồng và đã có số phone của ông Bình. Ông Bình bảo khoan về Nam chờ ông 1 tuần.
Đúng 1 tuần sau chúng tôi có giấy tạm đình chỉ thi hành án do TATC ký. Chúng tôi lại "đến thăm" ông Bình ở hẻm số 6 Phố Nhà Chung. Từ ngoài vào hẻm chừng 30 mét quẹo phải vào căn thứ 3 là nhà của ông Bình. Chúng tôi để lại một giỏ trái cây và một phong bì 20 triệu nữa. Một tuần sau chúng tôi có kháng nghị Giám đốc thẩm của TATC đề nghị xét xử lại sơ thẩm ngay từ đầu.
Và cũng từ đây tôi biết thêm một đầu mối để chạy án dân sự nữa. Cuối năm 2008 tôi lại một lần ra Hà Nội để giúp một luật sư ở An Giang tham gia chạy án. Chúng tôi trở lại thì ông Bình nói là có gì hãy ra văn Phòng luật sư Đức Quang ở Đường Nguyễn Chí Thanh lo hồ sơ.
Chúng tôi đến văn phòng luật sư Đức Quang số 91 Nguyễn Chí Thanh, chỗ này gần cà phê Nắng Sài Gòn, khá gần ký túc xá Đại học Luật - HN. Do vậy mà VP luật sư Đức Quang thường tuyển các sinh viên Luật ra các phòng tiếp dân, gặp ai khá giả thì mồi chài về văn phòng của họ để chạy án. Chúng tôi lên lầu 11 bằng thang máy, ra khỏi thang máy sẽ gặp VP luật sư này. Người tiếp chúng tôi là nữ luật sư tên Hà Thanh. Bà luật sư Thanh sau khi nghe nội dung vụ kiện của chúng tôi thì ra giá là 10000 USD. Theo nữ luật sư Thanh này thì 10000 USD chỉ tương đương khoảng 180 triệu VND tỷ giá lúc này, lẽ ra là 200 triệu nhưng vì là đồng nghiệp luật sư chạy án thì giảm 20 triệu. Số tiền này được chung làm 3 lần như sau:
Lần thứ nhất nộp 3000 USD vào một tài khoản của họ cho thì 1 tuần sau sẽ nhận được quyềt định tạm hoãn thi hành án phúc thẩm (án phúc thẩm có hiệu lực ngay ngày tuyên án).
Lần thứ hai nộp 5000 USD vào một tài khoản khác ở ngân hàng khác sau khi nhận Quyết định tạm hoãn thi hành án này về nhà chờ từ 10 đến 15 ngày.
Lần thứ 3, trước khi trở lại VP luật sư Đức Quang để nhận quyết định kháng nghị của Giám đốc thẩm, thì nộp 2000 USD còn lại vào một tài khoản khác ở ngân hàng khác cho họ.
VP luật sư Đức Quang sau khi chia tay cũng căn dặn chúng tôi là về Miền Nam có ai chạy án thì đem ra họ. Họ sẽ chia 5% hoa hồng, ngoài ra trên giá 10000 USD thì được quyền bỏ túi.
Trong những ngày chờ lấy các quyết định tạm hoãn Thi hành án và Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm chúng tôi đi tìm hiểu các VP luật sư ở HN thì ai cũng chạy án nhưng giá rẻ hơn VP luật sư Đức Quang nhiều. VP luật sư Đăng Quang trên đường Bà Triệu cũng chạy án. VP luật sư Pháp Quyền số 4 Nguyễn Thượng Hiền do bà Nguyễn Thị Thanh Mai, trước đây là Phó Chánh án TATC làm trưởng VP luật sư này cũng chạy án. Các luật sư ở VP luật sư số 4 Nguyễn Thượng Hiền - HN đa số là cán bộ về hưu trước đây làm ở TATC cũng như VKSTC đều tham gia chạy án.
Giá cả ở các VP này thì thấp hơn của VP luật sư Đức Quang ở đường Nguyễn Chí Thanh một chút nhưng các nơi này thì nhận tiền mặt ngay tại VP luật sư và nộp tiền 1 lần chứ không chia làm 3 giai đoạn như bên Đức Quang.
Bà Bích ở VP luật sư số 4 Nguyễn Thượng Hiền trước đây từng là Viện Phó VKSTC cho hay là luật sư bây giờ chỉ sống bằng chạy án và các mối quan hệ. Ai có quan hệ nhiều hơn sẽ thắng kiện, đi kèm với các mối quan hệ là tiền. (Một kỷ niệm đáng nhớ với tôi là nhờ đến VP luật sư số 4 Nguyễn Thượng Hiền mà chúng tôi thăm nhà thơ Tế Hanh ở số 10 Nguyễn Thượng Hiền trước khi ông chết. Nhưng khi chúng tôi đến thăm thì ông cũng sống thực vật, bị liệt gần qua đời. Chúng tôi rất ngạc nhiên về cuộc sống kham khổ của nhà thơ mới lừng danh này).
Thì ra là luật sư cũng chỉ là một phương tiện chạy án mà thôi.
Chúng tôi tạm dừng ở đây và loạt bài này tiếp tục với việc chạy án của một cán bộ VKSTC vào ngày mai.
Thành phố Biên Hòa ngày 2.9.2011
Tác giả cũng hiểu có thể thông qua bài viết này với những tên người cụ thể, địa chỉ cụ thể, vụ việc cụ thể vẫn không được coi là chứng cứ để Ban chỉ đạo chống tham nhũng Trung ương do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu vào cuộc (vì họ xếp nó vào loại thư nặc danh), nhưng đây là một bằng chứng nữa cho thấy cái xã hội đã mục nát đến tận xương tủy và có thể nó đang lây lan nhanh đến các cơ quan tuần hoàn hô hấp của toàn bộ cái cơ thể vốn đã ốm yếu có nhiều khuyết tật từ khi mới bắt đầu sinh ra. Đọc bài viết của tác giả mà thấy lòng mình đau như cắt. Chợt thấu hiểu tại sao cô gái Sài Gòn do không kiềm chế chỉ tát nhẹ anh CSGT do không "chạy án" nên đã bị bọn quan tòa vô lương tâm tuyên 9 tháng tù giam- mà trước khi tuyên lại còn lý sự: Hành động tát CSGT của bị cáo đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người thi hành công vụ (mặt dù trước đó anh cảnh sát này nói: tôi chẳng làm sao cả!?). Thôi thì cứ đọc đã rồi bình sau:
Thế nên, khi nghe nói ông Huỳnh Ngọc Sỹ viên tham quan nổi tiếng trong vụ CPI đại lội Đông Tây TP.HCM được Tòa án NDTC tuyên giảm án từ chung thân (phiến sơ thẩm) đến 20 năm trong phiên phúc thẩm thì tác giả mới bật lên sự bức xúc để nói lên sự thật.
Những lần chạy án (phần 1)
Trịnh Viên Phương
Vụ án tham nhũng tày đình Huỳnh Ngọc Sĩ cuối cùng thì cũng kết cục rất là nhẹ nhàng: ông Huỳnh Ngọc Sĩ được hạ từ án chung thân thành 20 năm. Tức là từ vô thời hạn thành án có thời hạn. Nhìn qua ai cũng dễ ngộ nhận là thích đáng với một tên phạm tội tham nhũng, 20 năm còn gì? Nhưng dưới cái nhìn của một người từng đi chạy án tôi biết chắc chắn rằng: vụ án này đã được CHẠY. Với bản án này thì ông Huỳnh Ngọc Sỹ chỉ đi tù 6 năm là vui thú điền viên. Giờ đây tôi không im lặng nữa mà lên tiếng. Tôi xin gởi đến Dân Làm Báo những sự thật trong các lần chạy án của tôi. Nó liên quan đến nhiều người và nhiều vụ khác nhau. Tôi xin kể lại dưới dạng nhiều bài viết mà Dân Làm Báo có thể coi là nhiều phóng sự cũng được. Vì sự an ninh tính mạng cho cá nhân tôi và nhiều nhân chứng khác đang sống ngay giữa Sài Gòn và Hà Nội chúng tôi chỉ viết thật tên những quan tòa hay cán bộ VKS Tối cao từng nhận tiền của tôi, còn những nhân vật khác tạm thời chúng tôi xin được thay tên đổi họ.
Rất mong Dân Làm Báo quan tâm và hiểu rõ tâm trạng của tôi. Hoàn toàn không phải "chỉ đường hươu chạy" mà qua đây tôi muốn vạch mặt những tên quan tòa thối nát, những cán bộ VKSTC tham nhũng. Chính vì những con người này mà nhiều gia đình tiêu tán. Kẻ ác thì lọt tội và người ngay thẳng bị hại.
Tôi kể những kinh nghiệm chạy án này như một lời sám hối. Nói ra cho nhẹ nhàng. Có nhắm mắt thì cũng ra đi thảnh thơi.
Vụ thứ nhất : Ngân hàng G.
Thời điểm cuối thập niên 80 thế kỷ trước các HTX tín dụng thay nhau phá sản do ảnh hưởng nhiều vụ như là nước hoa Thanh Hương. Ngân hàng thương mại G. ra đời trong bối cảnh nâng khống số tiền vốn pháp định mà cũng do "chạy" mới nâng cấp lên thành ngân hàng. Thời điểm này số ngân hàng trên địa bàn thành phố đếm trên đầu ngón tay. Chúng tôi bỏ qua những chuyện liên quan đến kinh doanh ngân hàng giai đoạn này mà chỉ nói đến việc liên quan đến chạy án. Số tiền thất thoát vào giai đoạn này trên nhiều tỷ đồng. Đổ vỡ của ngân hàng G ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động tài chính không chỉ trên địa bàn thành phố mà cả nước thời bấy giờ. Dĩ nhiên là tất cả các nhân sự của ngân hàng G. phải vào tù. Vụ án này xử đến xử lui nhiều lần gây tốn kém nhiều bút mực của báo giới cái thời báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên mỗi tuần chỉ có 1 số rồi lên 2 số. Có một án tử hình và nhiều án chung thân trong vụ này. Chúng tôi tham gia chạy án cho một người bị kết tội chung thân.
Khi người nhà chúng tôi bị bắt thì đương nhiên cả dòng họ vào cuộc chạy án. Giai đoạn điều tra thì chạy cho công an kinh tế từ Bộ Nội Vụ (lúc này chưa tách công an và quốc phòng thành 2 bộ). Phải nói là giai đoạn này là tốn tiền nhiều nhất do chưa biết đường đi nước bước và chưa có các mối liên hệ. Mọi giao dịch của chúng tôi thông qua nhân vật tên là Dũng. Anh ta là con rể của một người họ hàng bên vợ của ông Lê Đức Anh. Chính ông Dũng này giới thiệu cho gia đình chúng tôi biết ông Việt hiện làm tổng biên tập tạp chí kiểm sát thuộc VKSTC có trụ sở ở 44 Lý Thường Kiệt- Hà Nội. Những đường đi nước bước của chúng tôi là do 2 ông này phối hợp và chỉ cách chạy án. Các ông này chỉ cho chúng tôi chia nhỏ vụ án ra nhiều khúc mà chạy:
1. Giai đoạn điều tra chạy để cho số tiền thất thoát ít bớt xuống hòng chuyển đổi tội danh. Mọi giao dịch khâu này do ông Dũng chạy. Tôi nhớ là nhà của ông Dũng trong chung cư Bộ Nội Vụ số 237 Nguyễn Văn Cư- Quận 1, SG.
2. Kết thúc điều tra chuyển qua VKS thì chạy để cho VKS truy tố tội danh nhẹ hơn.
3. Xét xử sơ thẩm chạy cho án tử hình thành án chung thân.
4. Xét xử phúc thẩm chạy từ án chung thân thành án 20 năm.
5. Trong trại giam thì chạy án để trưởng trại giam ký lệnh giảm án và quay trở lại tòa án để chánh án chấp nhận.
Bây giờ nói thì dễ nhưng các giai đoạn đó chung chi rất mệt. Không như thời nay trong các lần chạy án thì chỉ việc chuyển tiền vào tài khoản của các nhân vật này. Bây giờ thì tham nhũng tinh vi hơn nhưng lúc đó thì chồng tiền mặt. Đem đến tận nhà giao còn ăn cơm với gia đình của họ nữa.
Trong vụ án của chúng tôi thì những nhân vật sau liên quan đến chuyện nhận tiền của chúng tôi:
1. Giai đoạn điều tra chúng tôi chạy tiền qua ông Dũng ở trong khu tập thể Bộ Nội Vụ (bây giờ là Bộ công an) số 237 Nguyễn Văn Cừ. Ông Dũng lo luôn chạy bên VKS người nhận tiền tên là ông Bộng, bây giờ là chồng Luật Sư Hoàng Mỹ trên đường Võ Thị Sáu.
2. Giai đoạn xét xử sơ thẩm chúng tôi chạy tiền cho thẩm phán Sáu nhà ở gần chợ Bến Thành.
3. Giai đoạn phúc thẩm chúng tôi chạy tiền cho thẩm phán Tấn ở Quận 4.
4. Giai đoạn thi hành án chúng tôi chạy tiền cho ông Nguyễn Trung Binh trưởng trại giam Z30 A ở Xuân Lộc, Đồng Nai.
Mọi giao dịch ở Hà Nội và cả những bài báo trên tạp chí Kiểm Sát thì chúng tôi rất tốn kém cho ông Việt. kể cả những chuyến công tác trong Miền Nạm đi chơi với em út thì ông Việt luôn ép gia đình chúng tôi chung chi. Chính việc tiếp xúc với ông Việt này mà chúng tôi đã có nhiều mối quan hệ quen biết ở Hà Nội trong những lần chạy án tiếp theo.
Dựa vào kinh nghiệm chạy án của tôi thì trường hợp của ông Huỳnh Ngọc Sỹ bây giờ cũng đã được chạy án theo chiến thuật sau:
Tử hình xuống chung thân.
Chung thân xuống 20 năm.
20 năm ra trại thì chỉ 7 năm( tức 1/3 án ) sẽ về nhà.
Những lần chạy án - Phần 2:
Phần 2: KHI LUẬT SƯ CŨNG CHẠY ÁN
Kinh nghiệm trong lần chạy án trước và rành đường đi nước bước ở Hà Nội nên người thân và bạn bè ai cũng biết chuyện tôi từng đi chạy án. Do vậy khi mà các bản án phúc thẩm trong Miền Nam có hiệu lực thì nhiều người nhờ tôi "chạy". Một người bà con xa của tôi ở Huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre thua kiện trong vụ tranh chấp quyền sử dụng đất. Người này thua kiện vì ỷ lại mình là luật sư biết nhiều luật nên không cần chạy. Kết cục là thua ở 2 phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm ở Bến Tre. Anh luật sư này lên Sài Gòn và nhờ tôi cùng "chạy án".
Chúng tôi ra Hà Nội và mùa đông năm 2004. Lúc đó phòng tiếp dân của Tòa án Tối Cao (TATC) vẫn còn ở 48 Lý Thường Kiệt chưa bị đưa về 265 Đội Cần như hiện nay. Đây là vụ án dân sự nên nhờ Tòa dân sự của TATC can thiệp. Như bao người khiếu nại lên Giám đốc thẩm, các bản án Phúc thẩm đã có hiệu lực chúng tôi ùn ùn kéo về 48 Lý Thường kiệt. Người nhận đơn khiếu nại là bà Tuyết (bây giờ là thẩm phán của TA Hà Nội), lúc đó bà Tuyết còn ngồi ở phòng tiếp dân. Phòng tiếp dân sau khi nhận đơn và cho bạn một tờ chứng nhận là Phòng tiếp dân của TATC đã nhận được đơn khiếu nại án phúc thẩm số... của tòa án tỉnh... ngày... Bà Tuyết hỏi tôi có quen ai ở Viện KSTC ở HN không? Tôi thành thật trả lời là có quen với ông Việt nhưng làm bên báo kiểm sát. Bà Tuyết chỉ đường là chạy qua đó xin họ cái kháng nghị đi. Tôi chạy qua bên VKSTC thì cũng vào được phòng tiếp dân. Cảm giác của tôi sau 1 thời gian quay lại những nơi này thì khó chịu vì ở phòng tiếp dân của TATC và VKSTC luôn gắn camera theo dõi người dân đi nộp đơn. Dân chúng khắp 64 tỉnh thành bị xử oan ức đầy đủ "4 phương trời ta về đây chung vui".
Chúng tôi về nhà nghĩ chờ không biết bao lâu. Gặp đủ các dân oan như chị Kiều Chinh ở Lào Cai, Bà Ngọc Anh ở Tiền Giang, Mẹ con bà Phương ở Pleiku, bà Bảy ở Long An, Ông Sùng Sao Vàng ở Sơn La, chị Thủy ở Quảng Ngãi, chị Nga ở Vĩnh Long. Ai cũng ở đây trên 2-3 năm nghe mà ngao ngán quá chừng. Về miền nam mà chưa có cái gì ngoài cái chứng nhận của phòng tiếp dân thì không thể về được. Phải vận dụng hết các mối quen biết để gặp cho được cán bộ của tòa dân sự TATC.
Rồi chúng tôi cũng tìm đến nhà ông Phạm Thanh Bình, chánh tòa dân sự TATC. Nhà của ông Bình trong hẻm số 6 Phố Nhà Chung, đối diện với vườn hoa ngày nay mà trước đây là khu đất bỏ hoang gần Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ông Bình hỏi ai giới thiệu đến. Chúng tôi nói thật là một người quen chỉ đường. Ông Bình tiếp chúng tôi khá lâu. Chúng tôi nói đã nộp đơn vào phòng tiếp dân rồi. Ông Bình nhép miệng cười. Chúng tôi ra về sau khi để lại cho ông ta một bịch trái cây trong đó có phong bì 20 triệu đồng và đã có số phone của ông Bình. Ông Bình bảo khoan về Nam chờ ông 1 tuần.
Đúng 1 tuần sau chúng tôi có giấy tạm đình chỉ thi hành án do TATC ký. Chúng tôi lại "đến thăm" ông Bình ở hẻm số 6 Phố Nhà Chung. Từ ngoài vào hẻm chừng 30 mét quẹo phải vào căn thứ 3 là nhà của ông Bình. Chúng tôi để lại một giỏ trái cây và một phong bì 20 triệu nữa. Một tuần sau chúng tôi có kháng nghị Giám đốc thẩm của TATC đề nghị xét xử lại sơ thẩm ngay từ đầu.
Và cũng từ đây tôi biết thêm một đầu mối để chạy án dân sự nữa. Cuối năm 2008 tôi lại một lần ra Hà Nội để giúp một luật sư ở An Giang tham gia chạy án. Chúng tôi trở lại thì ông Bình nói là có gì hãy ra văn Phòng luật sư Đức Quang ở Đường Nguyễn Chí Thanh lo hồ sơ.
Chúng tôi đến văn phòng luật sư Đức Quang số 91 Nguyễn Chí Thanh, chỗ này gần cà phê Nắng Sài Gòn, khá gần ký túc xá Đại học Luật - HN. Do vậy mà VP luật sư Đức Quang thường tuyển các sinh viên Luật ra các phòng tiếp dân, gặp ai khá giả thì mồi chài về văn phòng của họ để chạy án. Chúng tôi lên lầu 11 bằng thang máy, ra khỏi thang máy sẽ gặp VP luật sư này. Người tiếp chúng tôi là nữ luật sư tên Hà Thanh. Bà luật sư Thanh sau khi nghe nội dung vụ kiện của chúng tôi thì ra giá là 10000 USD. Theo nữ luật sư Thanh này thì 10000 USD chỉ tương đương khoảng 180 triệu VND tỷ giá lúc này, lẽ ra là 200 triệu nhưng vì là đồng nghiệp luật sư chạy án thì giảm 20 triệu. Số tiền này được chung làm 3 lần như sau:
Lần thứ nhất nộp 3000 USD vào một tài khoản của họ cho thì 1 tuần sau sẽ nhận được quyềt định tạm hoãn thi hành án phúc thẩm (án phúc thẩm có hiệu lực ngay ngày tuyên án).
Lần thứ hai nộp 5000 USD vào một tài khoản khác ở ngân hàng khác sau khi nhận Quyết định tạm hoãn thi hành án này về nhà chờ từ 10 đến 15 ngày.
Lần thứ 3, trước khi trở lại VP luật sư Đức Quang để nhận quyết định kháng nghị của Giám đốc thẩm, thì nộp 2000 USD còn lại vào một tài khoản khác ở ngân hàng khác cho họ.
VP luật sư Đức Quang sau khi chia tay cũng căn dặn chúng tôi là về Miền Nam có ai chạy án thì đem ra họ. Họ sẽ chia 5% hoa hồng, ngoài ra trên giá 10000 USD thì được quyền bỏ túi.
Trong những ngày chờ lấy các quyết định tạm hoãn Thi hành án và Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm chúng tôi đi tìm hiểu các VP luật sư ở HN thì ai cũng chạy án nhưng giá rẻ hơn VP luật sư Đức Quang nhiều. VP luật sư Đăng Quang trên đường Bà Triệu cũng chạy án. VP luật sư Pháp Quyền số 4 Nguyễn Thượng Hiền do bà Nguyễn Thị Thanh Mai, trước đây là Phó Chánh án TATC làm trưởng VP luật sư này cũng chạy án. Các luật sư ở VP luật sư số 4 Nguyễn Thượng Hiền - HN đa số là cán bộ về hưu trước đây làm ở TATC cũng như VKSTC đều tham gia chạy án.
Giá cả ở các VP này thì thấp hơn của VP luật sư Đức Quang ở đường Nguyễn Chí Thanh một chút nhưng các nơi này thì nhận tiền mặt ngay tại VP luật sư và nộp tiền 1 lần chứ không chia làm 3 giai đoạn như bên Đức Quang.
Bà Bích ở VP luật sư số 4 Nguyễn Thượng Hiền trước đây từng là Viện Phó VKSTC cho hay là luật sư bây giờ chỉ sống bằng chạy án và các mối quan hệ. Ai có quan hệ nhiều hơn sẽ thắng kiện, đi kèm với các mối quan hệ là tiền. (Một kỷ niệm đáng nhớ với tôi là nhờ đến VP luật sư số 4 Nguyễn Thượng Hiền mà chúng tôi thăm nhà thơ Tế Hanh ở số 10 Nguyễn Thượng Hiền trước khi ông chết. Nhưng khi chúng tôi đến thăm thì ông cũng sống thực vật, bị liệt gần qua đời. Chúng tôi rất ngạc nhiên về cuộc sống kham khổ của nhà thơ mới lừng danh này).
Thì ra là luật sư cũng chỉ là một phương tiện chạy án mà thôi.
Chúng tôi tạm dừng ở đây và loạt bài này tiếp tục với việc chạy án của một cán bộ VKSTC vào ngày mai.
Thành phố Biên Hòa ngày 2.9.2011
Tác giả cũng hiểu có thể thông qua bài viết này với những tên người cụ thể, địa chỉ cụ thể, vụ việc cụ thể vẫn không được coi là chứng cứ để Ban chỉ đạo chống tham nhũng Trung ương do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu vào cuộc (vì họ xếp nó vào loại thư nặc danh), nhưng đây là một bằng chứng nữa cho thấy cái xã hội đã mục nát đến tận xương tủy và có thể nó đang lây lan nhanh đến các cơ quan tuần hoàn hô hấp của toàn bộ cái cơ thể vốn đã ốm yếu có nhiều khuyết tật từ khi mới bắt đầu sinh ra. Đọc bài viết của tác giả mà thấy lòng mình đau như cắt. Chợt thấu hiểu tại sao cô gái Sài Gòn do không kiềm chế chỉ tát nhẹ anh CSGT do không "chạy án" nên đã bị bọn quan tòa vô lương tâm tuyên 9 tháng tù giam- mà trước khi tuyên lại còn lý sự: Hành động tát CSGT của bị cáo đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người thi hành công vụ (mặt dù trước đó anh cảnh sát này nói: tôi chẳng làm sao cả!?). Thôi thì cứ đọc đã rồi bình sau:
IM LẶNG ĐÁNG SỢ!
Nguyễn Văn Tuấn
Một trong những nét văn hóa trong các cơ quan công quyền ở trong nước là “văn hóa im lặng”. Giới quan chức nói chung ít khi nào trả lời email hay thắc mắc của người dân, và càng im lặng trước những văn thư của quan chức nước ngoài. Thật khó giải thích thái độ im lặng đó, nhưng vấn đề là nó (sự im lặng) có khi gây tổn hại đến quốc gia …
Cách đây vài hôm tôi nhận được email của bạn đọc (là một sinh viên) phàn nàn rằng khi em gửi email đến thầy cô xin tư vấn thì đều không nhận được trả lời. Ngược lại, em này cho biết khi gửi email đến các thầy cô ở nước ngoài thì đều nhận được trả lời, có khi trả lời rất nhanh nữa. Em này hỏi tôi tại sao có sự khác biệt về thái độ giữa thầy cô ngoại và nội như thế. Tôi còn đang suy nghĩ câu trả lời thì chợt liên tưởng đến những chuyện gần đây. Những chuyện này nói lên cái văn hóa tôi gọi là văn hóa im lặng. Văn hóa này rất phổ biến trong giới quan chức.
Hình như các quan chức trong các cơ quan công quyền có văn hóa im lặng. Các nhân sĩ gửi thư đề nghị giải thích về tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến chuyến đi của đặc phái viên Hồ Xuân Sơn. Đáp lại sự quan tâm đó là một sự im lặng dài từ Bộ Ngoại giao. Rồi đến phần lớn các kiến nghị của nhân sĩ cũng rơi vào … không khí. Thư từ thắc mắc của người dân cũng thế: rơi vào im lặng. Có lần nói chuyện với một cựu đại biểu Quốc hội, chị gọi đó là “im lặng đáng sợ”. Đáng sợ hay không thì tôi không rõ, nhưng thái độ đó chẳng những khó hiểu mà có khi còn gây tác hại.
Tác hại thì đã xảy ra. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Vietnam Airlines (VNA) thua kiện chỉ vì sự im lặng. Khoảng 5 năm (?) trước, tòa án Ý buộc VNA phải bồi thường cho luật sư Maurizio Liberati gần 5 tỉ lia và đồng thời thanh toán chi phí luật sư gần 60 triệu lia. Sự việc xảy ra chỉ vì VNA khinh thường tòa án, không cử người tham dự phiên tòa. VNA làm ngơ án lệnh. Sự việc dẫn đến tòa án Paris ra lệnh phong tỏa tài khoản VNA. Chẳng biết kết cục câu chuyện ra sao, nhưng đó là một bài học đắt giá cho sự xem thường luật pháp quốc tế.
Hôm qua, đọc được một tin đáng chú ý khác về tai hại nghiêm trọng của văn hóa “im lặng đáng sợ”. Tác giả Nguyễn Duy An (làm việc tại tạp chí National Geographic của Mĩ) thuật lại câu chuyện đằng sau vấn đề bản đồ Hoàng Sa làm tốn nhiều giấy mực và công sức của người Việt vào năm ngoái như sau:
“Để chuẩn bị cho mình một ít kiến thức căn bản về việc làm bản đồ ở National Geographic, tôi liên lạc với một trong những nhân viên kỳ cựu trong nhóm “Bản Đồ” để hỏi về việc “đổi tên” quần đảo Paracel Islands. Ông ấy đã cho tôi biết một chi tiết rất quan trọng là đối với những vùng đất “đang tranh chấp”, ít nhất là 10 năm một lần, những người phụ trách bản đồ khu vực đó sẽ liên lạc với các chính phủ liên quan để xem có gì thay đổi hay không, nếu hai bên vẫn còn tranh chấp thì cứ theo ấn bản cũ như trường hợp quần đảo Falkland Islands giữa Anh Quốc và Argentina. Riêng quần đảo Paracel Islands “Hoàng Sa” thì hơi đặc biệt vì từ hơn một năm trước, nhóm của ông ta cũng gởi thư xin “xác định” tới cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, nhưng họ không hề nhận được trả lời từ Việt Nam; trong khi đó, Trung Quốc thì ngược lại, không những họ “khẳng định chủ quyền” trên quần đảo Paracel Islands mà còn chính thức mời một nhân viên đến tham quan cho biết thực hư. Ông ta bảo tôi: “Anh nghĩ xem, khi anh tận mắt chứng kiến từ phi trường tới hải cảng, từ các văn phòng hành chính đến chợ búa đều do Trung Quốc điều hành, và họ còn dẫn chứng giấy tờ để chứng minh họ là chủ thì anh nghĩ vùng đất đó thuộc về ai? Bây giờ muốn sửa lại, chúng ta cần có tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam!”
Đọc những dòng chữ trên, tôi thật sự sốc. Thật khó tưởng tượng nổi tại sao những người có trách nhiệm quá vô cảm trước một vấn đề trọng đại như thế! Với những quan chức vô cảm như thế này thì nguy cơ mất mát và thua thiệt ngoại bang sẽ còn dài dài trong tương lai.
Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có văn hóa im lặng. Có lẽ không ai biết đích xác lí do tại sao các quan chức ta tiết kiệm lời lẽ, nhưng có thể nghĩ đến một số lí do sau đây:
Thứ nhất là vô cảm. Nhiều quan chức trong nước chẳng quan tâm đến chủ quyền biển đảo. Tôi đã gặp quan chức cấp tỉnh thậm chí còn chẳng biết Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam! Thật ra, cũng không trách họ vì họ thiếu thông tin. Những gì báo chí đưa tin không đầy đủ, và những gì phổ biến trong Đảng thì chưa chắc là những thông tin đa chiều. Trong bối cảnh như thế, nếu một quan chức nhận một công văn từ nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, có thể họ nghĩ đó là chuyện của … Trung Quốc.
Thứ hai là ngạo mạn và khinh thường. Nhiều quan chức Việt Nam xem người dân như cỏ rác. Thử nhìn qua các quan chức ngồi vào ghế nói chuyện với người dân thì biết. Họ chẳng thèm nhìn mặt dân. Ngôn ngữ thì quát nạt hơn là nói. Có khi còn dùng cả ngôn ngữ tay chân. Còn nhớ một ông phó bí thư (?) tát một bạt tay vào mặt bà cụ khi bà nhờ ông này mua vé. Lại có quan chức nghĩ rằng VN có luật của VN, nên bất chấp luật quốc tế. Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà VNA phớt lờ tòa án Ý và phải lãnh đủ hậu quả.
Thứ ba là văn hóa làm thuê. Người làm thuê chỉ nghĩ đơn giản làm cho xong việc và việc đáng với đồng lương. Một suy nghĩ rất phổ biến trong giới quan chức là trả lương đến đó thì làm việc đến đó. Họ không suy nghĩ gì ngoài chuyện cơm áo gạo tiền. Họ không cần phấn đấu (mà phấn đấu có khi lại nguy hiểm vì bị đồng nghiệp dèm pha) và chỉ làm việc như cái máy, cứ như đến hẹn lại lên. Tôi gọi đó là văn hóa làm thuê, và kẻ làm thuê thì chẳng cần quan tâm đến chuyện công chúng, vì đối với họ đất nước này ai quản lí chẳng thành vấn đề; vấn đề là có cơm ăn áo mặt cái đã. Đối với những quan chức loại này thì không mong gì họ có lòng với quê cha đất tổ và sự im lặng của họ hoàn toàn có thể hiểu được.
Thứ tư là do sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh chức vụ đi đôi đặc quyền và đặc lợi, thì có thể hiểu được các quan chức cần bảo vệ chức vụ của mình. Một cách an toàn là không phát biểu gì đụng chạm, hay tốt hơn nữa là … im lặng. Đó là chưa kể tình trạng chồng chéo về trách nhiệm và quyền lực. Một cơ quan có thủ trưởng nhưng cũng có bí thư. Nếu hai người này là một thì thủ tục còn tin giản, nhưng nếu là hai người khác nhau thì có khi cũng phiền phức. Nếu một quan chức muốn phát biểu họ phải xin phép cấp trên, và cấp trên lại xin phép cấp trên, cấp trên xin phép Đảng ủy, và cứ như thế chẳng ai dám nói gì.
Thứ năm là đá bóng. Nhìn qua cách hành xử của các cơ quan công quyền, họ có xu hướng “đá bóng”. Người này tìm cách biện minh không nằm trong quyền hạn hay trách nhiệm của mình, rồi đề nghị qua người khác; người khác cũng có lí do để nói không thuộc trách nhiệm của mình. Nhất là vấn đề liên quan với nước ngoài, người ta càng dè dặt, dè dặt đến nổi cuối cùng chẳng ai có động thái gì.
Lại có một loại quan chức nghĩ chuyện quốc gia đại sự là chuyện của lãnh đạo, để cho lãnh đạo giải quyết. Còn lãnh đạo thì nghĩ đó là chuyện của lãnh đạo cấp cao hơn. Cuối cùng thì chẳng có ai hành động. Thay vì hành động thực tế thì Việt Nam có những đề nghị và chỉ thị (rất nhiều chỉ thị). Mà khi đã có hàng tá đề nghị lên và chỉ thị xuống thì sự việc coi như “đã rồi”, chẳng còn cứu vãn được tình thế.
Thứ sáu là vấn đề tiếng Anh. Phải ghi nhận rằng các quan chức rất kém tiếng Anh. Do đó, đứng trước một văn bản tiếng Anh, họ không hiểu, hoặc hiểu nhưng không tốt lắm, và ngay cả hiểu nhưng không biết cách soạn thảo một văn thư trả lời. Ngay cả quan chức Bộ Ngoại giao cũng hạn chế tiếng Anh thì khó trách các bộ và ngành khác. Từ hạn chế về tiếng Anh dẫn đến thiếu tự tin, và hệ quả là … im lặng.
Dù là vô cảm, ngạo mạn, vô trách nhiệm, đá bóng, hay tiếng Anh (hay bất kể lí do gì) thì văn hóa im lặng đáng sợ là không thể chấp nhận được. Ngày nào cái văn hóa đó còn tồn tại thì ngày đó hệ thống hành chính chưa văn minh, người dân vẫn còn khổ, và chủ quyền quốc gia còn bị đe doạ. Người ta có thể cười đùa với quan chức im lặng, nhưng im lặng trước vấn đề chủ quyền tổ quốc bị xâm phạm là một sự phản bội (và người đó không xứng đáng làm người Việt) chứ không phải chuyện đùa được.
Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn
Một trong những nét văn hóa trong các cơ quan công quyền ở trong nước là “văn hóa im lặng”. Giới quan chức nói chung ít khi nào trả lời email hay thắc mắc của người dân, và càng im lặng trước những văn thư của quan chức nước ngoài. Thật khó giải thích thái độ im lặng đó, nhưng vấn đề là nó (sự im lặng) có khi gây tổn hại đến quốc gia …
Cách đây vài hôm tôi nhận được email của bạn đọc (là một sinh viên) phàn nàn rằng khi em gửi email đến thầy cô xin tư vấn thì đều không nhận được trả lời. Ngược lại, em này cho biết khi gửi email đến các thầy cô ở nước ngoài thì đều nhận được trả lời, có khi trả lời rất nhanh nữa. Em này hỏi tôi tại sao có sự khác biệt về thái độ giữa thầy cô ngoại và nội như thế. Tôi còn đang suy nghĩ câu trả lời thì chợt liên tưởng đến những chuyện gần đây. Những chuyện này nói lên cái văn hóa tôi gọi là văn hóa im lặng. Văn hóa này rất phổ biến trong giới quan chức.
Hình như các quan chức trong các cơ quan công quyền có văn hóa im lặng. Các nhân sĩ gửi thư đề nghị giải thích về tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến chuyến đi của đặc phái viên Hồ Xuân Sơn. Đáp lại sự quan tâm đó là một sự im lặng dài từ Bộ Ngoại giao. Rồi đến phần lớn các kiến nghị của nhân sĩ cũng rơi vào … không khí. Thư từ thắc mắc của người dân cũng thế: rơi vào im lặng. Có lần nói chuyện với một cựu đại biểu Quốc hội, chị gọi đó là “im lặng đáng sợ”. Đáng sợ hay không thì tôi không rõ, nhưng thái độ đó chẳng những khó hiểu mà có khi còn gây tác hại.
Tác hại thì đã xảy ra. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Vietnam Airlines (VNA) thua kiện chỉ vì sự im lặng. Khoảng 5 năm (?) trước, tòa án Ý buộc VNA phải bồi thường cho luật sư Maurizio Liberati gần 5 tỉ lia và đồng thời thanh toán chi phí luật sư gần 60 triệu lia. Sự việc xảy ra chỉ vì VNA khinh thường tòa án, không cử người tham dự phiên tòa. VNA làm ngơ án lệnh. Sự việc dẫn đến tòa án Paris ra lệnh phong tỏa tài khoản VNA. Chẳng biết kết cục câu chuyện ra sao, nhưng đó là một bài học đắt giá cho sự xem thường luật pháp quốc tế.
Hôm qua, đọc được một tin đáng chú ý khác về tai hại nghiêm trọng của văn hóa “im lặng đáng sợ”. Tác giả Nguyễn Duy An (làm việc tại tạp chí National Geographic của Mĩ) thuật lại câu chuyện đằng sau vấn đề bản đồ Hoàng Sa làm tốn nhiều giấy mực và công sức của người Việt vào năm ngoái như sau:
“Để chuẩn bị cho mình một ít kiến thức căn bản về việc làm bản đồ ở National Geographic, tôi liên lạc với một trong những nhân viên kỳ cựu trong nhóm “Bản Đồ” để hỏi về việc “đổi tên” quần đảo Paracel Islands. Ông ấy đã cho tôi biết một chi tiết rất quan trọng là đối với những vùng đất “đang tranh chấp”, ít nhất là 10 năm một lần, những người phụ trách bản đồ khu vực đó sẽ liên lạc với các chính phủ liên quan để xem có gì thay đổi hay không, nếu hai bên vẫn còn tranh chấp thì cứ theo ấn bản cũ như trường hợp quần đảo Falkland Islands giữa Anh Quốc và Argentina. Riêng quần đảo Paracel Islands “Hoàng Sa” thì hơi đặc biệt vì từ hơn một năm trước, nhóm của ông ta cũng gởi thư xin “xác định” tới cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, nhưng họ không hề nhận được trả lời từ Việt Nam; trong khi đó, Trung Quốc thì ngược lại, không những họ “khẳng định chủ quyền” trên quần đảo Paracel Islands mà còn chính thức mời một nhân viên đến tham quan cho biết thực hư. Ông ta bảo tôi: “Anh nghĩ xem, khi anh tận mắt chứng kiến từ phi trường tới hải cảng, từ các văn phòng hành chính đến chợ búa đều do Trung Quốc điều hành, và họ còn dẫn chứng giấy tờ để chứng minh họ là chủ thì anh nghĩ vùng đất đó thuộc về ai? Bây giờ muốn sửa lại, chúng ta cần có tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam!”
Đọc những dòng chữ trên, tôi thật sự sốc. Thật khó tưởng tượng nổi tại sao những người có trách nhiệm quá vô cảm trước một vấn đề trọng đại như thế! Với những quan chức vô cảm như thế này thì nguy cơ mất mát và thua thiệt ngoại bang sẽ còn dài dài trong tương lai.
Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có văn hóa im lặng. Có lẽ không ai biết đích xác lí do tại sao các quan chức ta tiết kiệm lời lẽ, nhưng có thể nghĩ đến một số lí do sau đây:
Thứ nhất là vô cảm. Nhiều quan chức trong nước chẳng quan tâm đến chủ quyền biển đảo. Tôi đã gặp quan chức cấp tỉnh thậm chí còn chẳng biết Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam! Thật ra, cũng không trách họ vì họ thiếu thông tin. Những gì báo chí đưa tin không đầy đủ, và những gì phổ biến trong Đảng thì chưa chắc là những thông tin đa chiều. Trong bối cảnh như thế, nếu một quan chức nhận một công văn từ nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, có thể họ nghĩ đó là chuyện của … Trung Quốc.
Thứ hai là ngạo mạn và khinh thường. Nhiều quan chức Việt Nam xem người dân như cỏ rác. Thử nhìn qua các quan chức ngồi vào ghế nói chuyện với người dân thì biết. Họ chẳng thèm nhìn mặt dân. Ngôn ngữ thì quát nạt hơn là nói. Có khi còn dùng cả ngôn ngữ tay chân. Còn nhớ một ông phó bí thư (?) tát một bạt tay vào mặt bà cụ khi bà nhờ ông này mua vé. Lại có quan chức nghĩ rằng VN có luật của VN, nên bất chấp luật quốc tế. Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà VNA phớt lờ tòa án Ý và phải lãnh đủ hậu quả.
Thứ ba là văn hóa làm thuê. Người làm thuê chỉ nghĩ đơn giản làm cho xong việc và việc đáng với đồng lương. Một suy nghĩ rất phổ biến trong giới quan chức là trả lương đến đó thì làm việc đến đó. Họ không suy nghĩ gì ngoài chuyện cơm áo gạo tiền. Họ không cần phấn đấu (mà phấn đấu có khi lại nguy hiểm vì bị đồng nghiệp dèm pha) và chỉ làm việc như cái máy, cứ như đến hẹn lại lên. Tôi gọi đó là văn hóa làm thuê, và kẻ làm thuê thì chẳng cần quan tâm đến chuyện công chúng, vì đối với họ đất nước này ai quản lí chẳng thành vấn đề; vấn đề là có cơm ăn áo mặt cái đã. Đối với những quan chức loại này thì không mong gì họ có lòng với quê cha đất tổ và sự im lặng của họ hoàn toàn có thể hiểu được.
Thứ tư là do sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh chức vụ đi đôi đặc quyền và đặc lợi, thì có thể hiểu được các quan chức cần bảo vệ chức vụ của mình. Một cách an toàn là không phát biểu gì đụng chạm, hay tốt hơn nữa là … im lặng. Đó là chưa kể tình trạng chồng chéo về trách nhiệm và quyền lực. Một cơ quan có thủ trưởng nhưng cũng có bí thư. Nếu hai người này là một thì thủ tục còn tin giản, nhưng nếu là hai người khác nhau thì có khi cũng phiền phức. Nếu một quan chức muốn phát biểu họ phải xin phép cấp trên, và cấp trên lại xin phép cấp trên, cấp trên xin phép Đảng ủy, và cứ như thế chẳng ai dám nói gì.
Thứ năm là đá bóng. Nhìn qua cách hành xử của các cơ quan công quyền, họ có xu hướng “đá bóng”. Người này tìm cách biện minh không nằm trong quyền hạn hay trách nhiệm của mình, rồi đề nghị qua người khác; người khác cũng có lí do để nói không thuộc trách nhiệm của mình. Nhất là vấn đề liên quan với nước ngoài, người ta càng dè dặt, dè dặt đến nổi cuối cùng chẳng ai có động thái gì.
Lại có một loại quan chức nghĩ chuyện quốc gia đại sự là chuyện của lãnh đạo, để cho lãnh đạo giải quyết. Còn lãnh đạo thì nghĩ đó là chuyện của lãnh đạo cấp cao hơn. Cuối cùng thì chẳng có ai hành động. Thay vì hành động thực tế thì Việt Nam có những đề nghị và chỉ thị (rất nhiều chỉ thị). Mà khi đã có hàng tá đề nghị lên và chỉ thị xuống thì sự việc coi như “đã rồi”, chẳng còn cứu vãn được tình thế.
Thứ sáu là vấn đề tiếng Anh. Phải ghi nhận rằng các quan chức rất kém tiếng Anh. Do đó, đứng trước một văn bản tiếng Anh, họ không hiểu, hoặc hiểu nhưng không tốt lắm, và ngay cả hiểu nhưng không biết cách soạn thảo một văn thư trả lời. Ngay cả quan chức Bộ Ngoại giao cũng hạn chế tiếng Anh thì khó trách các bộ và ngành khác. Từ hạn chế về tiếng Anh dẫn đến thiếu tự tin, và hệ quả là … im lặng.
Dù là vô cảm, ngạo mạn, vô trách nhiệm, đá bóng, hay tiếng Anh (hay bất kể lí do gì) thì văn hóa im lặng đáng sợ là không thể chấp nhận được. Ngày nào cái văn hóa đó còn tồn tại thì ngày đó hệ thống hành chính chưa văn minh, người dân vẫn còn khổ, và chủ quyền quốc gia còn bị đe doạ. Người ta có thể cười đùa với quan chức im lặng, nhưng im lặng trước vấn đề chủ quyền tổ quốc bị xâm phạm là một sự phản bội (và người đó không xứng đáng làm người Việt) chứ không phải chuyện đùa được.
Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







